Duyệt lại giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng

Luật sư Đào Tăng Dực

Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.

Nhà cầm quyền CSVN gần đây đã gởi 3 công hàm (30/3, 10/4 và 14/4) cho Liên Hiệp Quốc khẳng định chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Phía Trung Quốc trả đũa bằng cách trưng ra Công Hàm của cố thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 như là một biện minh cho chủ quyền TQ tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Hầu đả phá toàn diện biện minh này của TQ, chúng ta cũng phải duyệt lại một lần nữa giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng. Tôi đã nêu ra lập luận này ngày 3/8/2016:

Nội dung của công hàm này là gì?

Công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958, gởi cho Chu Ân Lai, Tổng Lý Quốc Vụ Viện, tương đương thủ tướng Trung Quốc, nội dung như sau:

“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

Phạm Văn Đồng

Thủ tướng chính phủ

Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”

Câu hỏi mà mọi công dân Việt Nam yêu nước luôn nêu ra là: liệu công hàm Phạm Văn Đồng có giá trị pháp lý, trước một pháp đình nghiêm chỉnh hay không?

Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải qua một quá trình phân tách như sau.

Trước hết, người CSVN cho đến bây giờ, vẫn luôn biện minh rằng, công hàm này chưa từng nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa. Vì thế không thể kết luận rằng công hàm xác nhận hai quần đảo này thuộc TQ.

Tuy nhiên người TQ sẽ phản biện rằng, công hàm này tán thành tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc “quyết định về hải phận 12 hải lý” của họ. Tuyên bố của TQ ghi rõ:

“Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nay tuyên bố:

(1)             Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồquần đảo Đông Saquần đảo Tây Saquần đảo Trung Saquần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”

Hoàng Sa thì TQ gọi là Tây Sa và Trường Sa thì TQ gọi là Nam Sa.

Người CSVN có thể lập luận rằng, công hàm này chỉ giới hạn ở vấn đề hải phận 12 hải lý.

Trong khi đó, người CSTQ sẽ lập luận rằng, trong một văn kiện quan trọng như thế, nếu muốn giới hạn thì ông Phạm Văn Đồng đã ghi rõ rằng Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Khi Phạm Văn Đồng không làm điều đó thì đã chứng minh sự công nhận chủ quyền TQ trên hai quần đảo này.

Điểm thứ nhì cần phân tích là một văn kiện nhường chủ quyền của một thành phần máu huyết của tổ quốc, cho một ngoại bang như TQ, như công hàm này, đã thông qua những thủ tục hiến định cần thiết hay chưa?

Để giải quyết vấn nạn này, chúng ta cần duyệt lại nội dung hiến pháp có hiệu lực vào thời điểm ông Phạm Văn Đồng ký công hàm. Người CSVN kinh qua nhiều hiến pháp khác nhau. Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013.

Thời điểm ký phù hợp với Hiến Pháp 1946 vì Hiến Pháp 1959 chỉ được Quốc Hội thông qua ngày 31 tháng 12, 1959 và Ông Hồ Chí Minh công bố ngày 1 tháng 1, năm 1960.

Khi phân tích Hiến Pháp 1946, thì Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa theo quốc hội chế. Quốc hội lúc đó gọi là Nghị Viện Nhân Dân và theo điều 23 có trách nhiệm chuẩn y các hiệp ước ký với nước ngoài. Theo điều 32 Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Sau cùng theo điều 49 chỉ có chủ tịch nước, tức ông Hồ Chí Minh mới có quyền “ký hiệp ước với các nước”.

Trong Hiến Pháp 1946, chức vụ thủ tướng hoàn toàn chịu sự lãnh đạo của chủ tịch nước và không có quyền ký một văn bản quan trọng liên hệ đến vận mệnh hoặc chủ quyền quốc gia. Ngay cả trong trường hợp ông Hồ Chí Minh đích thân ký công hàm này, cũng không thể có hiệu lực vì nhân dân chưa có phúc quyết theo điều 32 và Nghị Viện Nhân Dân chưa chuẩn y.

Dĩ nhiên cả hai ông Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Bộ Chính Trị lúc đó đều ý thức điều này. Nếu muốn công hàm có hiệu lực, họ phải khơi động (invoke) các điều khoản hiến pháp liên hệ và thông qua những thủ tục hiến định. Sau đó đích thân ông Hồ Chí Minh, thừa ủy nhiệm của Nghị Viện Nhân Dân, theo điều 49 hiến pháp, ký vào công hàm. Tuy nhiên, một là lãnh đạo các đảng CS kể cả CSTQ có thói quen coi thường hiến pháp. Thói quen này này của họ vô hình trung trở thành một lợi điểm pháp lý cho chúng ta. Hai là cả Hồ Chí Minh lẫn Phạm Văn Đồng muốn lập lờ đánh lận con đen với cả Trung Quốc lẫn nhân dân Việt Nam, hầu nhận sự Viện trợ của Trung Quốc.

Dĩ nhiên Trung Quốc có thể vin vào điều 27 của Công Ước Vienna về Luật các Hiệp Ước (Vienna Convention on the Law of Treaties) quy định rằng một quốc gia không thể viện dẫn một luật nội địa để không thi hành một hiệp ước. Tuy nhiên điều 27 có thể bị điều 46 phủ quyết và điều 46 ghi rõ như sau:

“ Một quốc gia không thể viện dẫn sự kiện rằng sự đồng ý của mình để bị ràng buộc bỡi một hiệp ước đã được thể hiện qua sự vi phạm một điều khoản của luật nội địa liên hệ đến thẩm quyền ký kết hiệp ước, như là yếu tố vô hiệu hóa sự đồng ý này, trừ khi sự vi phạm là hiển nhiên và liên hệ đến một quy luật nội tại có tầm mức quan trọng nền tảng”

(A State may not invoke the fact that its consent to be bound by a treaty has been expressed in violation of a provision of its internal law regarding competence to conclude treaties as invalidating its consent unless that violation was manifest and concerned a rule of its internal law of fundamental importance.)

Hiến pháp 1946 là luật nền tảng và sự vi phạm nó là là hiển nhiên và sẽ bị điều 46 Công Ước nêu trên chế tài và sẽ bị cho là vô hiệu lực.

Đó là chưa kể lập luận của chúng ta sẽ là: vì vi phạm những nguyên tắc căn bản nêu trên, không có một hiệp ước nào được thành lập ngay từ khởi thủy (ab initio) nhường Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc cả.

Tức là lập luận của chúng ta sẽ vững chãi trên cả hai bình diện nêu trên và một bình diện quan trọng thứ 3:

  1. Một là không có hiệp ước công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc ngay từ đầu và
  1. Hai là nếu có, thì sẽ bị vô hiệu hóa chiếu theo điều 46 của Công Ước Vienna nêu trên.
  1. Điểm thứ ba vô cùng quan trọng là vào thời điểm đó, Việt Nam Công Hòa là một quốc gia có cương thổ, quân đội, chủ quyền pháp lý lẫn thực tế trên Hoàng Sa và Trường Sa.VNCH được Hoa Kỳ và 87 quốc gia khác công nhận. Nếu Liên Bang Xô Viết không phủ quyết thì năm 1957, VNCH đã trở thành một quốc gia thành viên của LHQ. Tuy thế VNCH đã là thành viên của nhiều Ủy Ban của Liên Hiệp Quốc.

 Bắc Việt tức nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bị phần lớn các quốc gia tự do tẩy chay. Chỉ được các nước cộng sản khác công nhận.

Chính vì thế khi thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ký công hàm 1958 thì văn kiện này gặp trở ngại lớn lao về pháp lý. Đó là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, như một quốc gia, không có tư cách pháp lý, nhường một phần lãnh thổ (Hoàng Sa và Trường Sa) thuộc chủ quyền của một đệ nhị quốc gia là nước Việt Nam Cộng Hòa, cho một đệ tam quốc gia là nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Phán quyết ngày 12 tháng 7, 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực tại The Hague, Hà Lan, chiếu theo Công Ước Liên Hiêp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) trong cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines, vô hiệu hóa Đường Lưỡi Bò 9 đoạn của Trung Quốc và giới hạn các quyền lợi liên hệ đến các quần thể trên Biển Đông trong vòng hải phận 12 hải lý, cũng là một án lệ quốc tế vô cùng thuận lợi cho Việt Nam.

Với các lý do nêu trên, chúng ta có thể kết luận rằng, trước một pháp đình có thẩm quyền nghiêm chỉnh, công hàm liên hệ đến chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của cựu thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 sẽ không có giá trị pháp lý và nhà cầm quyền CSVN cần phải đưa Trung Quốc ra tòa càng sớm càng tốt, hầu bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc Việt Nam.

Năm nay và một vài năm sắp tới sẽ là thời điểm mà uy tín trên chính trường cũng như vũ trường công pháp quốc tế của đảng CSTQ sẽ suy yếu rõ rệt và sẽ là thời điểm tốt nhất để khởi kiện CSTQ.

Công Hàm ngày 30 tháng 3/2020

***************************

Công hàm ngày 10/4/2020

***********************************

Công hàm 25/HC-2020 ngảy 10/4/2020




**************************************
Công hàm CML/42/2020 ngày 17/4/2020 của China
CHINA GỬI CÔNG HÀM SỐ CML/42/2020
VỀ BIỂN ĐÔNG LÊN LIÊN HIỆP QUỐC PHẢN ĐỐI VIỆT NAM

(Chuyển ngữ: Ngô S. Đồng Toản)

(trang 1)
(Bản dịch)
CML/42/2020

Phái đoàn Thường trực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc kính chào ngài Tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Tham chiếu các Công hàm trước của chúng tôi số CML/17/2009 và số CML/18/2009 gửi tới Ngài Ban Ki-moon, là Tổng thư ký Liên Hợp Quốc lúc ấy, bởi Phái đoàn Thường trực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc năm 2009, Phái đoàn Trung Hoa (China) xin được tuyên bố quan điểm của China, liên quan đến Công hàm số 22/HC-2020 ngày 30/3/2020, và các Công hàm số 24/HC-2020 và số 25/HC-2020 ngày 10/4/2020 gửi Tổng thư ký Liên Hợp Quốc bởi Phái đoàn Thường trực của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, như sau:

China có chủ quyền đối với Quần đảo Tây Sa, Quần đảo Nam Sa và các vùng nước liền kề. China có các quyền chủ quyền và tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. China có các quyền lịch sử trên Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). Chủ quyền của China đối với Chư đảo Nam Hải cũng như các quyền và lợi ích hàng hải của China ở Biển Đông là đã được thiết lập trong một giai đoạn dài của thực tế lịch sử. Các quyền ấy đã được gìn giữ bởi các Chính phủ China kế tiếp nhau và là phù hợp với luật quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên Hợp Quốc và Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển. Chính phủ China bày tỏ sự phản đối mạnh mẽ đối với nội dung trong các Công hàm của Việt Nam số 22/HC-2020, số 24/HC-2020 và số 25/HC-2020.

Chủ quyền của China đối với Quần đảo Tây Sa và Quần đảo Nam Sa là được công nhận rộng rãi bởi cộng đồng quốc tế. Chính phủ Việt Nam cũng đã công nhận điều ấy một cách rõ ràng. Ngày 4 tháng Chín năm 1958, Chính phủ China ban hành bản Tuyên bố của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về Lãnh hải của Trung Quốc, công bố bề rộng lãnh hải mười-hai-hải-lý, và quy định rằng, “Điều khoản này áp dụng cho mọi lãnh thổ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa,

(trang 2)
bao gồm […] Quần đảo Đông Sa, Quần đảo Tây Sa, Quần đảo Trung Sa, Quần đảo Nam Sa và mọi đảo khác thuộc China”. Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Việt Nam đã gửi một công hàm ngoại giao tới Tổng lý Quốc vụ viện China Chu Ân Lai, long trọng tuyên bố rằng “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc”, và rằng “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy”. Trước những năm đầu 1970, Việt Nam đã chính thức công nhận rằng Quần đảo Tây Sa và Quần đảo Nam Sa đã luôn là những phần không thể tách rời của lãnh thổ China từ thời cổ đại. Lập trường này đã được phản ánh trong các tuyên bố và công hàm của chính phủ Việt Nam, cũng như các bản đồ, sách giáo khoa và báo chí chính thống của nước này.

Sau năm 1975, Việt Nam đã vi phạm nguyên tắc không phủ nhận (estoppel) và có các tuyên bố lãnh thổ bất hợp pháp về Quần đảo Tây Sa và Quần đảo Nam Sa của China. Trong khi vi phạm các mục đích và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã đưa quân đội xâm phạm và chiếm đóng trái phép một số đảo và bãi đá của Quần đảo Nam Sa của China bằng vũ lực, cố tình gây ra tình trạng tranh chấp. China luôn phản đối sự xâm phạm và chiếm đóng của Việt Nam tại một số đảo và bãi đá của Quần đảo Nam Sa của China, và những hành động xâm phạm quyền và lợi ích của China ở những vùng biển thuộc quyền tài phán của China. China kiên quyết đòi Việt Nam phải rút mọi lực lượng và phương tiện khỏi các đảo và đá mà nước này đã xâm lược và chiếm đóng bất hợp pháp.

Đệ trình phối hợp của Việt Nam và Malaysia vào ngày 6 tháng Năm 2009 cũng như đệ trình của Việt Nam vào ngày 7 tháng Năm 2009 lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa (CLCS) về ranh giới thềm lục địa mở rộng vượt quá 200 hải lý ở một số vùng của Biển Nam China đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của China ở Biển Nam China. China cương quyết phản đối điều này. Lập trường của China về vấn đề này đã được tuyên bố trong các Công hàm số CML/17/2009 và số CML/18/2009 gửi tới Ngài Ban Ki-moon, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc thời kỳ ấy, bởi Phái đoàn Thường trực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc năm 2009.

(trang 3)
Lập trường của China về vấn đề Biển Nam China là rõ ràng và nhất quán, và đã được nêu lên lặp đi lặp lại trong các tuyên bố đưa ra bởi Chính phủ China cũng như các Công hàm tương ứng trình lên Liên Hợp Quốc.

Phái đoàn Thường trực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc yêu cầu Tổng thư ký Liên Hợp Quốc gửi Công hàm này tới tất cả các Quốc gia Thành viên của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển cũng như mọi Thành viên của Liên hiệp quốc.

Nhân dịp này, Phái đoàn Thường trực của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Liên Hợp Quốc một lần nữa xin gửi đến ông Tổng thư ký Liên Hợp Quốc lời chào trân trọng nhất.

New York, 17/4/2020

Kính gửi:

Ngài Antonio Guterres
Tổng thư ký
Liên Hợp Quốc
Tại New York

*****
* Ghi chú của người dịch (NSĐT):
1) Tôi cực lực phản đối Công hàm số CML/42/2020 ngày 17/4/2020 của China!
2) Tôi phản đối các tên gọi/danh xưng mà China tự tiện đặt và sử dụng theo cách của họ trong Công hàm số CML/42/2020, cho các quần đảo, đảo, bãi đá và cấu trúc địa lý (Hoàng Sa, Trường Sa và trong Biển Đông) thuộc chủ quyền Việt Nam!
3) Tôi cố tình không dùng từ “Trung Quốc”, mà dùng từ China. Ước nguyện rằng, cả nước Việt Nam từ nay sẽ chỉ dùng từ China!

Nguồn:
https://www.un.org/…/su…/mys_12_12_2019/20200417CHVNM_EN.pdf


CHINA’S NOTE VERBALE NO. CML/42/2020 TO UNITED NATIONS, AGAINST VIETNAM

Bản gốc tiếng Anh:

(Translation)
CML/42/2020

The Permanent Mission of the People’s Republic of China to the United Nations presents its compliments to the Secretary-General of the United Nations. Recalling its Notes Verbales No. CML/17/2009 and No. CML/18/2009 addressed to His Excellency Ban Ki-moon, the then Secretary-General of the United Nations, by the Permanent Mission of the People’s Republic of China to the United Nations in 2009, the Chinese Mission, with regard to the Note Verbale No. 22/HC-2020 dated 30 March 2020 and the Notes Verbales No. 24/HC-2020 and No. 25/HC-2020 dated 10 April 2020 addressed to the Secretary-General of the United Nations by the Permanent Mission of the Socialist Republic of Viet Nam to the United Nations, has the honor to state China’s position as follows:

China has sovereignty over Xisha Qundao, Nansha Qundao and their adjacent waters. China has sovereign rights and jurisdiction over the relevant waters as well as the seabed and subsoil thereof. China has historic rights in the South China Sea. China’s sovereignty over Nanhai Zhudao and its maritime rights and interests in the South China Sea are established in the long course of historical practice. They have been upheld by successive Chinese Governments and are consistent with international law, including the Charter of the United Nations and the United Nations Convention on the Law of the Sea. The Chinese Government expresses its firm opposition to the contents of Viet Nam’s Notes Verbales No. 22/HC-2020, No. 24/HC-2020 and No. 25/HC-2020.

China’s sovereignty over Xishan Qundan and Nansha Qundao is widely recognized by the international community. The Government of Viet Nam had also explicitly recognized it. On 4 September 1958, the Chinese Government promulgated the Declaration of the Government of the People’s Republic of China on China’s Territorial Sea, proclaiming a twelve-nautical-mile territorial sea breadth, and stipulating that, “This provision applies to all territories of the People’s Republic of China,

(page 2)

including […] Dongsha Qundao, Xisha Qundao, Zhongsha Qundao, Nansha Qundao and all other islands belonging to China.” On 14 September 1958, Prime Minister Pham Van Dong of Viet Nam sent a diplomat note to Zhou Enlai, Premier of the State Council of China, solemnly stating that “the Government of the Democratic Republic of Viet Nam recognizes and supports the declaration of the Government of the People’s Republic of China on its decision concerning China’s territorial sea made on 4 September 1958” and that “the Government of the Democratic Republic of Viet Nam respects this decision”. Prior to the early 1970s, Viet Nam had officially recognized that Xisha Qundao and Nansha Qundao have always been inherent parts of China’s territory since ancient times. This position was reflected in its government statements and notes, as well as its official maps, textbooks and newspapers.

After 1975, Viet Nam violated estoppel and made illegal territorial claims to China’s Xisha Qundao and Nansha Qundao. In violation of the purposes and principles of the Charter of the United Nations, Viet Nam sent troops to invade and illegally occupy some islands and reefs of China’s Nansha Qundao by force, attempting to provoke disputes. China always opposes the invasion and illegal occupation by Viet Nam of some islands and reefs of China’s Nansha Qundao, and the activities infringing upon China’s rights and interests in the waters under China’s jurisdiction. China resolutely demands that Viet Nam withdraw all the crews and facilities from the islands and reefs it has invaded and illegally occupied.

The joint submission by Viet Nam and Malaysia dated 6 May 2009 and the submission by Viet Nam dated 7 May 2009 to the Commission on the Limits of the Continental Shelf concerning the outer limits of the continental shelf beyond 200 nautical miles in some areas of the South China Sea have seriously infringed upon China’s sovereignty, sovereign rights and jurisdiction in the South China Sea. China is firmly opposed to this. China’s position on this issue has been stated in the Notes Verbales No. CML/1 7/2009 and No. CML/18/2009 addressed to His Excellency Ban Ki-moon, the then Secretary-General of the United Nations, by the Permanent Mission of the People’s Republic of China to the United Nations in 2009.

(page 3)

China’s position concerning the South China Sea issue is clear and consistent, and has been repeatedly elaborated in the statements issued by the Chinese Government and the relevant Notes Verbales submitted to the United Nations.

The Permanent Mission of the People’s Republic of China to the United Nations requests the Secretary-General of the United Nations to circulate this Note Verbale to all States Parties to the United Nations Convention on the Law of the Sea and all Members of the United Nations.

The Permanent Mission of the People’s Republic of China to the United Nations avails itself of this opportunity to renew to the Secretary-General of the United Nations the assurances of its highest consideration.

New York, 17 April 2020

H.E. Mr. Antonio Guterres
Secretary-General
United Nations
New York

Source:
https://www.un.org/…/su…/mys_12_12_2019/20200417CHVNM_EN.pdf

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: