Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính Trị CSVN đã chia bao nhiêu phần trăm trong dự án 1 tỉ 800 ngàn US?

Khi nào thì vụ án dầu hỏa Venezuela ra tòa?

********

Việt Nam khai thác dầu tại Venezuela

BBC

Tổng thống Hugo Chavez gặp công nhân Tập đoàn dầu khí quốc gia PDVSA
Tập đoàn PVDSA sẽ liên doanh với PetroVietnam để khai thác dầu nặng tại Đông bộ Venezuela.
Công ty dầu khí quốc gia Venezuela, PDVSA, sẽ hợp tác với PetroVietnam, để khai thác dầu nặng tại Venezuela.

Công ty sắp thành lập có tên PetroMacareo SA chủ yếu hoạt động tại vùng châu thổ sông Orinoco phía đông Venezuela.

Ngoài khai thác dầu công ty này còn được phép vận tải và kinh doanh xăng dầu.
Luật của Venezuela quy định các đối tác liên doanh với PDVSA, tức công ty dầu khí quốc gia, chỉ được phép nắm cổ phần thiểu số trong dự án khai thác.
Chính phủ cánh tả của tổng thống Chavez đã thành lập nhiều dự án khai thác dầu lửa với một số đồng minh. Công ty dầu của các nước như Trung Quốc, Nga, và Việt Nam đã vào Venezuela trong các dự án liên doanh.
Đây là nỗ lực của Venezuela nhằm đa dạng nguồn khách hàng mua dầu.
Hoa Kỳ là nước nhập khẩu nhiều dầu thô nhất của Venezuela. Hiện nay nước này đứng thứ tư trong số những nước cung cấp dầu cho Mỹ.
Việt Nam đồng ý
Thủ tướng Việt Nam cũng đồng ý trên nguyên tắc cho tổng công ty Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) liên doanh với công ty dầu khí quốc gia Venezuela, PDVSA, trong các dự án thăm dò và khai thác dầu khí.
Khai thác dầu tại Nam Mỹ
Image captionPetroVietnam sẽ lập liên doanh khai thác dầu tại Venezuela.
Cạnh đó PetroVietnam cũng được phép hợp tác với phía Venezuela để nghiên cứu khả năng xây dựng và kinh doanh nhà máy lọc dầu.
Công ty của hai nước có thể đầu tư vào các dự án xây dựng hệ thống kho cảng trung chuyển để tiếp nhận, phân phối dầu thô và sản phẩm dầu từ Venezuela sang Việt Nam và các nước trong khu vực.
Venezuela đứng thứ 5 trên thế giới về xuất khẩu dầu lửa. Công nghiệp dầu khí chiếm 82% kim ngạch xuất khẩu, đóng góp một nửa GDP. Hơn một nửa nguồn ngân sách của chính phủ nước Trung Mỹ đến từ dầu khí.
Hai nước đã có các chuyến viếng thăm của lãnh đạo cấp cao. Cuối tháng Sáu năm 2006 tổng thống Venezuela Hugo Chavez đã tới Việt Nam.
Ông ngỏ ý tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư và liên doanh trong lĩnh vực năng lượng tại Venezuela.
Hợp tác Việt Nam Venezuela
Tháng 11 năm 2008, khi sang thủ đô Caracas để dự cuộc họp thượng đỉnh của khối Apec, chủ tịch nước Việt Nam ông Nguyễn Minh Triết đã thăm chính thức Venezuela.
Ngoài các bàn thảo về lập liên doanh khai thác dầu lửa, lãnh đạo Việt Nam và Venezuela khi ấy có thảo luận về một ngân quỹ phát triển chung, tương tự như ngân quỹ Venezuela đã có với Trung Quốc và Iran.
Sau chuyến thăm Hà nội của ông Chavez tháng Sáu năm 2006, chính phủ Venezuela đã gia tăng quan hệ song phương với Việt Nam. Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đã thăm Caracas trong năm 2007.
Trong cuộc gặp của viên chức cao cấp hai nước tháng Tám năm ngoái, bộ trưởng Năng lượng và Dầu hỏa Venezuela, Rafael Ramirez, cho báo giới hay tập đoàn dầu khí quốc gia của hai nước đã đạt được thỏa thuận về việc chở dầu thô từ Venezuela sang Việt Nam, để lọc tại một trong các nhà máy lọc dầu sẽ xây trong tương lai.
Việt Nam và Venezuela lập quan hệ ngoại giao từ năm 1989, năm ngoái kim ngạch mậu dịch giữa hai nước chỉ hơn 10 triệu đô la Mỹ một chút.
Giải trình Quốc hội
Tại phiên họp quốc hội đang diễn ra ở Hà Nội tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) sẽ phải giải trình về tính “hiệu quả” trong kế hoạch đầu tư của họ tại Venezuela.
Theo ông Nguyễn Đức Kiên, phó chủ tịch Quốc hội, các dự án liên doanh dầu khí giữa Việt Nam và Venezuela đã được quốc hội phê duyệt, và chúng thuộc “công trình trọng điểm.”
Ngày 28/11/2008, tại Caracas, tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã ký văn bản ghi nhớ với tập đoàn Dầu khí Quốc gia Venezuela (PDVSA) thành lập công ty liên doanh khai thác dầu nặng vùng châu thổ sông Orinoco, phía Đông Venezuela.
Hợp đồng liên doanh sẽ có hiệu lực sau khi được Quốc hội Venezuela phê chuẩn.
Dự kiến khi đi vào khai thác, lô Junin 2 thuộc vành đai dầu nặng Orinoco, sẽ cho phép khai thác khoảng 200.000 thùng dầu mỗi ngày, tương đương 10 triệu tấn dầu một năm.
Dầu nặng sẽ được liên doanh đưa qua nhà máy lọc do hai bên góp vốn xây tại Việt Nam để nâng cấp thành dầu nhẹ thương phẩm.
  • Chavez tịch thu công ty dịch vụ dầu khí
  • Lãnh tụ Venezuela thắng lợi về cải tổ
BBC không chịu trách nhiệm nội dung các trang bên ngoài

Venezuela đập đầu vào tường

Hùng Tâm

https://www.nguoi-viet.com/nhin-tu-hoa-ky/Venezuela-dap-dau-vao-tuong-4338/

Cán cân quân bình đã lệch và sẽ lật
Một năm sau khi Hugo Chavez tạ thế, xứ Venezuela trôi vào khủng hoảng ngày càng trầm trọng và tuột vào vòng xoáy chưa ai nhìn thấy đáy. 
“Hồ Sơ Người Việt” tìm hiểu về tình trạng nguy kịch này như một lời cảnh báo cho các chế độ độc tài, bất tài mà vẫn bám víu vào quyền lực nhờ tinh thần mị dân. Hay hậu quả tai hại của dân trí quá thấp nên vẫn mộng mị tin vào lề lối mị dân với màu sắc “xã hội chủ nghĩa.”
Khác với quy cách thông thường, hồ sơ này sẽ vừa trình bày sự thể vừa nêu ra kết luận.
Tai họa Chavista thời “Hậu Chavez”
Trong khi thế giới còn chú ý vào vụ khủng hoảng tại Ukraine, từ giữa Tháng Hai, xứ Venezuela tại Nam Mỹ đã trôi vào một chu kỳ khủng hoảng, với làn sóng động loạn xã hội kéo dài khiến 30 người thiệt mạng, hàng trăm người bị thương và nhiều người biểu tình phản đối bị cầm tù, kể cả lãnh tụ đối lập là Leopold Lopez.
Từ hơn 10 năm nay, đây là những biến cố trầm trọng nhất tại một quốc gia có tài nguyên dầu khí và một chế độ tự xưng là bênh vực dân nghèo mà lại làm người dân nghèo đi và nhân quyền lẫn nhân phẩm bị chà đạp. Trong một kỳ sau, “Hồ Sơ Người Việt” sẽ trình bày riêng về khu vực dầu khí của Venezuela, bài tổng hợp này chỉ cập nhật về những biến cố mới nhất, như phần nổi ở trên.
Không khác gì nhiều chế độ độc tài bị người dân nổi lên chống đối từ hơn một thế kỷ vừa qua, phong trào nổi dậy tại Venezuela đã có sự tham dự đầu tiên, một cách tự phát, của thanh niên và sinh viên. Sau đấy mới là các thành phần xã hội cùng chia sẻ sự bất mãn về loại vấn đề thiết thực của đời sống, như 1) tội ác của xã hội đen lan tràn, 2) lạm phát gia tăng, và 3) nhu yếu phẩm khan hiếm trên thị trường. Theo thống kê của Ngân Hàng Trung Ương Venezuela, gần 30% sản phẩm nhu yếu hay những gì khả dĩ thay thế các món hàng cần thiết, lại hoàn toàn biến mất. Giới có tiền thì cũng khó tìm ra.
Chi tiết nhỏ nhặt trên cho thấy một kết luận đầu tiên, xin được đưa lên trên cùng: chính là tuổi trẻ đầy lý tưởng (thanh niên) và có hiểu biết (vì là sinh viên, đã may mắn vượt qua bậc trung học) mới nhạy cảm bước lên tuyến đầu của phong trào phản kháng, dù chưa có tổ chức và cũng chẳng có tham vọng gì cho bản thân trong lâu dài.
Sự bất mãn của quần chúng Venezuela khởi đi từ các vấn đề kinh tế, được ghi khá trừu tượng là “khan hiếm nhu yếu phẩm.” Nhu yếu phẩm là loại hàng cần thiết cho đời sống thường nhật của đám đông, chứ không là những gì cao xa hay xa xỉ của thiểu số. Nhưng, thật ra, vấn đề kinh tế của Venezuela không chỉ xuất hiện từ khi lãnh tụ Hugo Chavez tạ thế vào Tháng Ba năm ngoái.
Từ những năm 1999, khó khăn kinh tế đã thúc đẩy phong trào phản kháng, bùng phát một cách rời rạc, lẻ tẻ và thiếu lãnh đạo có khả năng tổng hợp và gây tác dụng cộng hưởng. Lần này, tình hình có khác vì kinh tế còn lụn bại hơn từ một năm nay, và những thành phần nghèo khốn xưa kia được chế độ Chavez o bế bằng chính sách trợ cấp và mua chuộc cũng bị thất vọng.
Nổi lên từ một cuộc đảo chánh hụt, Hugo Chavez đã thắng cử nhờ huy động tinh thần ái quốc của anh hùng dân tộc là Simón Bolivar và nhờ chính sách kinh tế được gọi là “đại chúng,” populist, vì nhắm vào đám đông. Trong mọi xã hội, dân nghèo tất nhiên là đông hơn người giàu và chính sách nâng đỡ dân nghèo đã tạo hậu thuẫn cho Chavez và vây cánh được gọi là “Chavista.” Về lý luận thì Chavez kết hợp tinh thần dân tộc nhờ hình ảnh Bolivar với tinh thần xã hội chủ nghĩa nhờ khẩu hiệu cách mạng cộng sản, được ông ta hiện đại hóa sau khi chủ nghĩa cộng sản đã phá sản từ năm 1991.
Chi tiết ấy cũng đủ cho thấy trình độ dân trí của Venezuela!
Vì dân trí quá thấp, đa số dân chúng không hiểu rằng chính sách kinh tế mị dân, được thực thi nhờ trợ cấp và mua chuộc đã tạo ra vấn đề kinh tế là làm công khố và tài nguyên cạn kiệt dần. Ðang là một nước giàu, có tài nguyên thiên nhiên là năng lượng, Venezuela tự làm cho mình nghèo đi và khu vực chiến lược là dầu khí bị tụt hậu. Sau cả chục năm như vậy thì xứ này tiến tới phá sản.
Nhưng hoàn cảnh kinh tế tai hại này còn dẫn tới vấn đề chính trị, là chế độ đã tạo ra một thành phần tay chân trục lợi và nhờ ách độc tài mà cấu kết thành mạng lưới tham ô. Chế độ mị dân sản sinh ra đám “thân tộc” có quan hệ với tầng lớp cầm quyền mà thu vét quyền lợi cho mình.
Cái giá phải trả về kinh tế là sự phá sản của công khố. Cái giá về xã hội là nạn tội ác tràn lan của “xã hội đen.” Chế độ độc tài trở thành bất tài bất lực trước tội ác và như trong nhiều xứ độc tài khác, băng đảng tội các lại cấu kết với bộ máy an ninh và công an, cho nên giàu nghèo gì thì người dân cũng trở thành nạn nhân. Venezuela là nơi có mức độ sát nhân cao nhất thế giới.
Trong năm 2013 có 24,000 vụ giết người, với tỷ lệ rợn mình là cứ mươi vạn thì lại có 79 người bị ám sát.
Dù nương tựa vào Cuba, và được Trung Quốc cùng Liên Bang Nga nâng đỡ, Hugo Chavez vẫn chẳng thoát số trời. Sau khi ông ta từ trần, người được chọn làm kế nhiệm là Nicolas Maduro đã đắc cử vào Tháng Tư năm ngoái với một đa số rất mỏng và thừa hưởng di sản kinh tế đầy khó khăn. Những khó khăn tích lũy đó đã dồn dập và lây lan nên mới dẫn tới cuộc khủng hoảng ngày nay.
Một trong những lý luận có tính chất biện hộ của Maduro là vì mình thừa hưởng di sản kinh tế của vị tiền nhiệm. Thật ra, ông ta đã là phụ tá, Ngoại trưởng và đứng phó cho Chavez khi thực thi đường lối kinh tế này. Maduro là tay Chavista thân tín và đáng tin nhất của Chavez.
Những tai họa tích lũy
Kinh tế Venezuela là nạn nhân của chính sách vô trách nhiệm của một lãnh tụ độc tài và mị dân.
Người ta cứ lầm rằng một chế độ mị dân thì cũng có chút ít dân chủ và trước tiên là có bầu cử. Nhận thức hời hợt này rất sai vì chế độ Ðức quốc xã của Adolf Hitler cũng xuất phát từ bầu cử và có hình thức dân chủ. Sau đó, tinh thần mị dân, và thực chất là khinh dân, mới dẫn tới độc tài. Sự chuyển hóa chầm chậm, như một vòng đai siết lại từng nấc, khiến người dân quen dần với cái ách độc tài. Ðến khi muốn tháo gỡ thì đã quá trễ vì xã hội không còn tổ chức nào có thể vùng lên để thay thế. Các đảng phái đối lập thì bị tê liệt hóa hoặc bị phân hóa vì hai gọng kìm song hành là đàn áp và mua chuộc. Ngả theo chế độ thì còn có quyền lợi, chứ chống đối thì bị truyền thông của chế độ kết án, và vào tù.
Tuy nhiên, kinh tế lại xoay chuyển theo quy luật khác. Chính sách vô trách nhiệm của lãnh đạo Venezuela dẫn tới các tai họa sau đây.
Khi sản lượng kinh tế không tăng mà nhà nước tiếp tục tung tiền mua chuộc các thành phần dân chúng có thể ủng hộ mình nhờ quyền lợi được ban phát thì nhà nước phải đi vay. Bội chi ngân sách làm rách túi bạc và trở thành gánh nợ công trái – trái là nợ và công là của công quyền. Về kinh tế thì điều ấy có nghĩa là công chi – các mục chi của khu vực công quyền – gia tăng, được tài trợ bằng trái phiếu hay giấy nợ, với hậu quả là gây ra lạm phát.
Venezuela có thể thi hành chính sách kinh tế tai hại này trong cả chục năm vì là một nước sản xuất và xuất cảng dầu hỏa. Chavez khích động tinh thần dân tộc theo lối mị dân bằng biện pháp quốc hữu hóa các doanh nghiệp dầu hỏa của ngoại quốc. Nhưng hậu quả là đánh sụt đầu tư và làm khu vực năng lượng bị tụt hậu. Trong khi đó, nhờ có dầu, ông ta áp dụng biện pháp trợ giá để thị trường nội địa mua được xăng dầu và hàng hóa rất rẻ, dưới giá thị trường.
Hậu quả là nhà nước bị lỗ và khu vực năng lượng càng thêm lụn bại.
Chế độ trông cậy vào Trung Quốc để vượt qua những trở ngại này và càng lệ thuộc vào thiện chí của Bắc Kinh. Mỗi ngày, xứ này cung cấp 500 ngàn thùng dầu thô cho Trung Quốc để được vay tiền tài trợ ngân sách bị lủng và Bắc Kinh lấy dầu theo kiểu mua lúa non, nắm dầu trước, trả tiền sau.
Khía cạnh khác của chính sách kinh tế tai hại này là sự phình nở của khu vực kinh tế nhà nước, các tập đoàn quốc doanh về năng lượng, công nghiệp và đất đai.
Hai hậu quả kế tiếp của tình trạng này là quốc doanh lụn bại và mắc nợ trong khi tư doanh hết đất sống, bị bóp nghẹt và thậm chí đàn áp. Venezuela không chỉ gặp hiện tượng dễ hiểu là thiếu tổ chức hay giải pháp chính trị thay thế một chế độ độc tài, mà kinh tế cũng chưa tìm ra tiềm lực thay thế hệ thống quốc doanh trên bờ phá sản.
Khu vực năng lượng và tổng công ty quốc doanh PDVSA là con gà đẻ trứng vàng cho chế độ đã hết trứng và đang thành gà toi. Nếu dầu thô lại không lên giá mà còn giảm thì chế độ “Hậu Chavez” của Maduro sẽ không có tương lai.
Những chọn lựa lưỡng nan
Chính quyền hiện hành có thể tiếp tục đàn áp người dân trước sự thờ ơ của thế giới. Nhưng họ cũng biết là sẽ khó tồn tại nếu không thay đổi. Cho tới nay, chưa có chỉ dấu gì báo hiệu y muốn cải cách mà chỉ là những biện pháp gọi là “ổn định tình hình.” Việc ổn định này sẽ không có kết quả vì công quỹ đã cạn kiệt.
Khi phải lùi đến chân tường, lãnh đạo Venezuela phải tìm cách thoát hiểm.
Giải pháp ai cũng có thể nghĩ tới và nói đến là phải ra khỏi chế độ tập trung quản lý mà áp dụng quy luật thị trường. Giải pháp này lý tưởng mà thật ra không tưởng vì lập tức dẫn tới khủng hoảng kinh tế vì tư doanh chưa có sức bật để cứu nguy sản xuất trong khi tay chân của chế độ làm thịt tài sản của nhà nước và tháo chạy ra ngoài. Ðấy là kịch bản “Liên Bang Nga hậu Xô Viết” từ 1991 đến 1999.
Giải pháp kia là vững tay lái xã hội chủ nghĩa và tăng cường vai trò của nhà nước lẫn dùi cui của công an. Ðàn áp chính trị mạnh hơn nhằm triệt để bảo vệ quyền lực lẫn quyền lợi của thành phần ở trên. Kết quả sẽ là khủng hoảng cả kinh tế lẫn chính trị. Sau khi chế độ sụp đổ, Venezuela còn mất cả chục năm lầm than.
Kết luận ở đây là gì?
Ðịnh hướng xã hội chủ nghĩa là tai họa phổ biến và sau gần 15 năm, cán cân của Venezuela cứ nghiêng dần, cho đến khi lật.

PVN mất trắng cả chục ngàn tỉ đồng ở Venezuela


https://thanhnien.vn/viet-nam/pvn-mat-trang-ca-chuc-ngan-ti-dong-o-venezuela-831472.html
Anh Vũ

TIN NỔI BẬT
Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) tự sa lầy vào một số dự án đầu tư ra nước ngoài, trong đó có siêu liên doanh 1,8 tỉ USD vốn góp khai thác dầu tại Venezuela.
Không chỉ vung tiền đầu tư vào các dự án trong nước thua lỗ ngàn tỉ đồng, giai đoạn 2006 – 2011, PVN còn tự sa lầy vào một số dự án đầu tư ra nước ngoài. Trong đó có siêu liên doanh 1,8 tỉ USD vốn góp khai thác dầu tại Venezuela.
Con số lên đến nghìn tỉ đồng vốn góp hay số dư trên dưới 10.000 tỉ đồng của Tập đoàn dầu khí VN (PVN) ‘chìm’ cùng Oceanbank đang được yêu cầu làm rõ trong vụ án Hà Văn Thắm.
Từ dự án “khủng” trên giấy…
Năm 2007, Tập đoàn dầu khí quốc gia VN (PVN) xin phép Chính phủ được đàm phán với Công ty dầu khí quốc gia Venezuela về việc thành lập một liên doanh khai thác dầu giữa hai nước. Được chấp thuận, PVN giao cho công ty con là TCT thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) trực tiếp làm việc với TCT dầu khí Venezuela (thành viên của Công ty dầu khí quốc gia Venezuela).
Tháng 6.2010, tại thủ đô Caracas của Venezuela, “Dự án khai thác và nâng cấp dầu nặng lô Junin 2” được chính thức ra mắt. Tổng mức đầu tư được loan báo lên tới 12,4 tỉ USD, phân kỳ làm hai giai đoạn, ban đầu rót 8,9 tỉ USD, giai đoạn 2 rót 3,5 tỉ USD. Ngoài tính chất “siêu dự án” về mặt quy mô vốn đầu tư, lô Junin 2, được PVN báo cáo Chính phủ nằm ở khu vực có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, cho phép khai thác công suất 1.400 tỉ thùng. Theo tỷ lệ vốn góp 40%, PVN có thể thu về 4 triệu tấn dầu/năm, dự kiến hoàn vốn sau 7 năm. Con số này tương đương 70% sản lượng dầu của Vietsovpetro, liên doanh dầu khí đầu tiên và lớn nhất tại VN.
Vốn được thu xếp cho giai đoạn đầu như sau: Liên doanh vay 60% tương ứng 5,8 tỉ USD; 40% còn lại do các bên đóng góp tương ứng 3,1 tỉ USD. Phần vốn mà VN phải đóng góp tương ứng với tỷ lệ tham gia 40% trong hợp đồng là 1,241 tỉ USD. Nếu tính cả “phí tham gia hợp đồng” (bonus) 584 triệu USD thì tổng nhu cầu vốn của phía VN là 1,825 tỉ USD.
Song, sau nghi lễ ra mắt hoành tráng, đúng như những khuyến cáo của giới chuyên môn và các bộ, ngành nước ta mà lãnh đạo PVN lúc đó đã bỏ ngoài tai (về tình hình nước bạn, và đặc biệt, trữ lượng hoàn toàn không như PVN thổi phồng, báo lên Chính phủ), “siêu dự án” đã chẳng đi tới đâu. Chưa kể các chi phí đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD, chỉ riêng tiền mặt mà PVN trực tiếp trao cho Venezuela, một đi không trở lại, đã lên đến 532 triệu USD: 442 triệu tiền “bonus”, 90 triệu tiền góp vốn ban đầu.
Tháng 4.2013, ban lãnh đạo mới của PVN đã quyết định bỏ dự án này để “cứu” khoản tiền phải nộp lên đến 142 triệu USD, chấp nhận bỏ hơn 500 triệu USD, cho dù chưa thu được giọt dầu nào.
Ủy ban Kiểm tra T.Ư đề nghị xem xét kỷ luật đối với ông Đinh La Thăng – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM.
Mỏ dầu Junin 2ẢNH: PVN
… đến “cái chết” được báo trước
Chưa kể các chi phí đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD, chỉ riêng tiền mặt mà PVN trực tiếp trao cho Venezuela, một đi không trở lại, đã lên đến 532 triệu USD: 442 triệu tiền “bonus”, 90 triệu tiền góp vốn ban đầu
Để thuyết phục sự chấp thuận của các bộ, ngành, PVN đã báo cáo rằng sản lượng của Junin 2 lên đến “200.000 thùng/ngày, tương đương 10 triệu tấn/năm”. Ngay trong báo cáo ngày 11.8.2010 gửi Thủ tướng, Bộ trưởng KH-ĐT Võ Hồng Phúc đã phân tích các rủi ro tại thị trường Venezuela, đặc biệt là về tài chính (lạm phát, chênh lệch tỷ giá, yêu cầu sử dụng dịch vụ nội địa, phá giá đồng tiền ngày 9.1.2010 mất 50% giá trị) và Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đã yêu cầu “phải được cân nhắc hết sức thận trọng, đặc biệt khi nó được đầu tư bằng vốn nhà nước và vốn vay của DNNN”.
Ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng bày tỏ lo ngại khi dự án chưa làm rõ được rủi ro tại quốc gia đầu tư, khả năng huy động vốn, trong đó làm rõ về thời gian ân hạn khoản vay. Thực tế, theo NHNN, để thu xếp được các khoản vay giá trị lớn, trong suốt 6 năm như báo cáo là vô cùng khó khăn. Về nguồn vốn góp của PVN, theo NHNN cơ cấu nguồn vốn của công ty con PVEP bao gồm vốn chủ sở hữu, các nguồn để lại cho Tập đoàn đầu tư phát triển (547 triệu USD) và vốn vay thương mại (1,278 tỉ USD). PVEP ở thời điểm đó đang triển khai khá nhiều dự án đầu tư ở nước ngoài, với tổng vốn đầu tư cho các dự án lên tới hàng tỉ USD (và đều không hiệu quả). Do đó, NHNN đề nghị Bộ KH-ĐT lưu ý PVN làm rõ phương án sử dụng vốn cho dự án.
Bộ Tài chính cũng cảnh báo về một loạt các yếu tố rủi ro về khoản góp vốn của VN khi chưa có đánh giá cụ thể, chưa cập nhật các chi phí, tỷ suất thu hồi vốn… Đặc biệt, Bộ Tài chính còn yêu cầu PVN giải trình khoản thanh toán 584 triệu USD bằng tiền mặt trong khoảng thời gian ngắn cái gọi là “phí tham gia hợp đồng (bonus)” cho phía Venezuela (một nửa số tiền phải thanh toán ngay trong vòng 6 tháng từ ngày hợp đồng có hiệu lực). Theo Bộ Tài chính “đề xuất thanh toán phí tham gia hợp đồng” vô lý này mới được PVN đưa vào so với các lần xin chủ trương trước đó.
Trong số 12 dự án thua lỗ, kém hiệu quả, đầu tư dở dang, gây thất thoát hàng nghìn tỉ đồng, đang phải xử lý theo chỉ đạo của Thủ tướng thì Tập đoàn dầu khí VN ‘đóng góp’ tới 5 dự án.
Không xin chủ trương của Quốc hội
Ngày 5.8.2010, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đã có văn bản gửi PVN, yêu cầu phải khẩn trương hoàn tất hồ sơ dự án để trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư. Ngày 10.8.2010, Bộ Tài Chính cũng có công văn khẳng định rằng, theo Nghị quyết 49/2010/QH12 thì PVN phải lập hồ sơ trình xin chủ trương Quốc hội.
Cụ thể, Nghị quyết 49 nêu rõ dự án, công trình đầu tư ra nước ngoài nếu có quy mô tổng vốn đầu tư từ 25.000 tỉ đồng trở lên, trong đó vốn nhà nước tham gia từ 7.000 tỉ đồng trở lên hoặc dự án, công trình đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt đều được coi là dự án, công trình quan trọng quốc gia và đều phải trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư. Trong khi đó, tổng vốn góp của PVN trong dự án này lên tới 956 triệu USD và dự án đã được ra mắt từ tháng 6.2010.
Biện hộ rằng dự án được triển khai trước năm 2010 nên không áp dụng nghị quyết trên, tuy nhiên, theo Bộ KH-ĐT, căn cứ vào Nghị định 09/2009/NĐ-CP về “Quản lý tài chính công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DN khác”, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của dự án Junin 2 là 1,825 tỉ USD là của PVN (cả vốn chủ sở hữu và vốn vay) đều là vốn nhà nước. Bởi vậy, đây là dự án, công trình quan trọng của quốc gia thuộc diện phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư theo Nghị quyết 66/2006/QH11.
Chưa xin ý kiến Quốc hội nhưng từ tháng 5.2009, PVN đã cho tiến hành các hoạt động phối hợp thăm dò, đàm phán và từ ngày 29.6.2010 đã ký hợp đồng với nhiều điều kiện phi lý, ràng buộc chính PVN vào tình huống nếu không làm tiếp là phải chịu phạt rất nặng.
Mất hàng trăm triệu USD phi lý
Như trên đã nói, PVN đã ký hợp đồng lập liên doanh với Venezuela vào ngày 29.6.2010, trước khi các cấp có thẩm quyền chính thức cho phép. Nhưng điều đáng nói là như công văn của Bộ Tài chính chỉ ra, trong hợp đồng này, PVN đã chấp nhận một điều khoản cực kỳ phi lý: Phía VN phải trả “phí tham gia” (bonus) cho Venezuela với mức 1 USD/thùng dầu. Trong vòng 30 tháng, bất kể có dầu hay không, PVN vẫn phải nộp đủ phí này là 584 triệu USD bằng tiền mặt.
Trước ngày 12.5.2011, khi liên doanh chưa hoàn thành thủ tục đăng ký với cơ quan chức năng Venezuela, PVN đã phải chuyển 300 triệu USD tiền mặt sang nộp cho Venezuela; ngày 12.5.2012, PVN lại nộp cho Venezuela 142 triệu USD khác (đợt 2). Trong khi “kết quả khoan và khai thác siêu sớm không đạt được như kỳ vọng nên bức tranh sản lượng toàn mỏ có khả năng không được như dự kiến”, ngày 12.5.2013, PVN vẫn phải nộp cho Venezuela 142 triệu USD (đợt 3). 15 ngày sau thời hạn này, nếu không nộp đủ tiền, “toàn bộ cổ phần” của PVN trong liên doanh sẽ “tự động bị chuyển” cho đối tác Venezuela; phía PVN/PVEF cũng sẽ “không được quyền thanh toán hoặc đền bù bất cứ đồng nào từ các khoản đã đóng góp, vay vốn hay đầu tư” ở Junin 2.
Những sai phạm ở PVFC đã tạo thêm một “vũng lầy” cho PVN có phần nghiêm trọng hơn cả khoản thua lỗ của Tổng công ty xây lắp dầu khí (PVC) và khoản góp vốn mất trắng theo OceanBank.
Năm 2013, ban lãnh đạo mới của PVN đã phải quyết định đơn phương không thực hiện bản cam kết này vì nếu có góp thêm 142 triệu USD cũng chưa chắc thu được thùng dầu nào, chấp nhận mất 442 triệu USD tiền “phí tham gia”, 90 triệu USD tiền góp vốn và các chi phí lớn khác mà đến nay vẫn chưa khắc phục xong hậu quả.
Không chỉ sai phạm về việc tuân thủ các quy trình, thủ tục đầu tư; ký hợp đồng khi chưa được các cấp có thẩm quyền cho phép…, tiến trình thực hiện dự án còn cho thấy rằng, PVN đã báo cáo sai sự thật về kết quả thăm dò, về đánh giá trữ lượng, bỏ qua các cảnh báo rủi ro, làm mất mát một lượng vốn khổng lồ của nhà nước. Chưa kể nhiều chi phí khác, ai chịu trách nhiệm về khoản thất thoát 532 triệu USD – hơn 11.000 tỉ đồng “tiền tươi thóc thật” này?
Anh Vũ
Tại sao, Venezuela ?

18/06/2016 14:11 GMT+7

https://tuoitre.vn/tai-sao-venezuela-1119985.htm

TTCT – Điều gì đã dẫn đến cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế – xã hội vô cùng nghiêm trọng hiện n Không chỉ vung tiền đầu tư vào các dự án trong nước thua lỗ ngàn tỉ đồng, giai đoạn 2006 – 2011, PVN còn tự sa lầy vào một số dự án đầu tư ra nước ngoài. Trong đó có siêu liên doanh 1,8 tỉ USD vốn góp khai thác dầu tại Venezuela.

Con số lên đến nghìn tỉ đồng vốn góp hay số dư trên dưới 10.000 tỉ đồng của Tập đoàn dầu khí VN (PVN) ‘chìm’ cùng Oceanbank đang được yêu cầu làm rõ trong vụ án Hà Văn Thắm.
Từ dự án “khủng” trên giấy…
Năm 2007, Tập đoàn dầu khí quốc gia VN (PVN) xin phép Chính phủ được đàm phán với Công ty dầu khí quốc gia Venezuela về việc thành lập một liên doanh khai thác dầu giữa hai nước. Được chấp thuận, PVN giao cho công ty con là TCT thăm dò khai thác dầu khí (PVEP) trực tiếp làm việc với TCT dầu khí Venezuela (thành viên của Công ty dầu khí quốc gia Venezuela).
Tháng 6.2010, tại thủ đô Caracas của Venezuela, “Dự án khai thác và nâng cấp dầu nặng lô Junin 2” được chính thức ra mắt. Tổng mức đầu tư được loan báo lên tới 12,4 tỉ USD, phân kỳ làm hai giai đoạn, ban đầu rót 8,9 tỉ USD, giai đoạn 2 rót 3,5 tỉ USD. Ngoài tính chất “siêu dự án” về mặt quy mô vốn đầu tư, lô Junin 2, được PVN báo cáo Chính phủ nằm ở khu vực có trữ lượng dầu lớn nhất thế giới, cho phép khai thác công suất 1.400 tỉ thùng. Theo tỷ lệ vốn góp 40%, PVN có thể thu về 4 triệu tấn dầu/năm, dự kiến hoàn vốn sau 7 năm. Con số này tương đương 70% sản lượng dầu của Vietsovpetro, liên doanh dầu khí đầu tiên và lớn nhất tại VN.
Vốn được thu xếp cho giai đoạn đầu như sau: Liên doanh vay 60% tương ứng 5,8 tỉ USD; 40% còn lại do các bên đóng góp tương ứng 3,1 tỉ USD. Phần vốn mà VN phải đóng góp tương ứng với tỷ lệ tham gia 40% trong hợp đồng là 1,241 tỉ USD. Nếu tính cả “phí tham gia hợp đồng” (bonus) 584 triệu USD thì tổng nhu cầu vốn của phía VN là 1,825 tỉ USD.
Song, sau nghi lễ ra mắt hoành tráng, đúng như những khuyến cáo của giới chuyên môn và các bộ, ngành nước ta mà lãnh đạo PVN lúc đó đã bỏ ngoài tai (về tình hình nước bạn, và đặc biệt, trữ lượng hoàn toàn không như PVN thổi phồng, báo lên Chính phủ), “siêu dự án” đã chẳng đi tới đâu. Chưa kể các chi phí đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD, chỉ riêng tiền mặt mà PVN trực tiếp trao cho Venezuela, một đi không trở lại, đã lên đến 532 triệu USD: 442 triệu tiền “bonus”, 90 triệu tiền góp vốn ban đầu.
Tháng 4.2013, ban lãnh đạo mới của PVN đã quyết định bỏ dự án này để “cứu” khoản tiền phải nộp lên đến 142 triệu USD, chấp nhận bỏ hơn 500 triệu USD, cho dù chưa thu được giọt dầu nào.
Ủy ban Kiểm tra T.Ư đề nghị xem xét kỷ luật đối với ông Đinh La Thăng – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP.HCM.
Mỏ dầu Junin 2ẢNH: PVN
… đến “cái chết” được báo trước
Chưa kể các chi phí đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD, chỉ riêng tiền mặt mà PVN trực tiếp trao cho Venezuela, một đi không trở lại, đã lên đến 532 triệu USD: 442 triệu tiền “bonus”, 90 triệu tiền góp vốn ban đầu
Để thuyết phục sự chấp thuận của các bộ, ngành, PVN đã báo cáo rằng sản lượng của Junin 2 lên đến “200.000 thùng/ngày, tương đương 10 triệu tấn/năm”. Ngay trong báo cáo ngày 11.8.2010 gửi Thủ tướng, Bộ trưởng KH-ĐT Võ Hồng Phúc đã phân tích các rủi ro tại thị trường Venezuela, đặc biệt là về tài chính (lạm phát, chênh lệch tỷ giá, yêu cầu sử dụng dịch vụ nội địa, phá giá đồng tiền ngày 9.1.2010 mất 50% giá trị) và Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đã yêu cầu “phải được cân nhắc hết sức thận trọng, đặc biệt khi nó được đầu tư bằng vốn nhà nước và vốn vay của DNNN”.
Ngay sau đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng bày tỏ lo ngại khi dự án chưa làm rõ được rủi ro tại quốc gia đầu tư, khả năng huy động vốn, trong đó làm rõ về thời gian ân hạn khoản vay. Thực tế, theo NHNN, để thu xếp được các khoản vay giá trị lớn, trong suốt 6 năm như báo cáo là vô cùng khó khăn. Về nguồn vốn góp của PVN, theo NHNN cơ cấu nguồn vốn của công ty con PVEP bao gồm vốn chủ sở hữu, các nguồn để lại cho Tập đoàn đầu tư phát triển (547 triệu USD) và vốn vay thương mại (1,278 tỉ USD). PVEP ở thời điểm đó đang triển khai khá nhiều dự án đầu tư ở nước ngoài, với tổng vốn đầu tư cho các dự án lên tới hàng tỉ USD (và đều không hiệu quả). Do đó, NHNN đề nghị Bộ KH-ĐT lưu ý PVN làm rõ phương án sử dụng vốn cho dự án.
Bộ Tài chính cũng cảnh báo về một loạt các yếu tố rủi ro về khoản góp vốn của VN khi chưa có đánh giá cụ thể, chưa cập nhật các chi phí, tỷ suất thu hồi vốn… Đặc biệt, Bộ Tài chính còn yêu cầu PVN giải trình khoản thanh toán 584 triệu USD bằng tiền mặt trong khoảng thời gian ngắn cái gọi là “phí tham gia hợp đồng (bonus)” cho phía Venezuela (một nửa số tiền phải thanh toán ngay trong vòng 6 tháng từ ngày hợp đồng có hiệu lực). Theo Bộ Tài chính “đề xuất thanh toán phí tham gia hợp đồng” vô lý này mới được PVN đưa vào so với các lần xin chủ trương trước đó.
Trong số 12 dự án thua lỗ, kém hiệu quả, đầu tư dở dang, gây thất thoát hàng nghìn tỉ đồng, đang phải xử lý theo chỉ đạo của Thủ tướng thì Tập đoàn dầu khí VN ‘đóng góp’ tới 5 dự án.
Không xin chủ trương của Quốc hội
Ngày 5.8.2010, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đã có văn bản gửi PVN, yêu cầu phải khẩn trương hoàn tất hồ sơ dự án để trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư. Ngày 10.8.2010, Bộ Tài Chính cũng có công văn khẳng định rằng, theo Nghị quyết 49/2010/QH12 thì PVN phải lập hồ sơ trình xin chủ trương Quốc hội.
Cụ thể, Nghị quyết 49 nêu rõ dự án, công trình đầu tư ra nước ngoài nếu có quy mô tổng vốn đầu tư từ 25.000 tỉ đồng trở lên, trong đó vốn nhà nước tham gia từ 7.000 tỉ đồng trở lên hoặc dự án, công trình đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt đều được coi là dự án, công trình quan trọng quốc gia và đều phải trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư. Trong khi đó, tổng vốn góp của PVN trong dự án này lên tới 956 triệu USD và dự án đã được ra mắt từ tháng 6.2010.
Biện hộ rằng dự án được triển khai trước năm 2010 nên không áp dụng nghị quyết trên, tuy nhiên, theo Bộ KH-ĐT, căn cứ vào Nghị định 09/2009/NĐ-CP về “Quản lý tài chính công ty nhà nước và quản lý vốn nhà nước đầu tư vào DN khác”, tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của dự án Junin 2 là 1,825 tỉ USD là của PVN (cả vốn chủ sở hữu và vốn vay) đều là vốn nhà nước. Bởi vậy, đây là dự án, công trình quan trọng của quốc gia thuộc diện phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư theo Nghị quyết 66/2006/QH11.
Chưa xin ý kiến Quốc hội nhưng từ tháng 5.2009, PVN đã cho tiến hành các hoạt động phối hợp thăm dò, đàm phán và từ ngày 29.6.2010 đã ký hợp đồng với nhiều điều kiện phi lý, ràng buộc chính PVN vào tình huống nếu không làm tiếp là phải chịu phạt rất nặng.
Mất hàng trăm triệu USD phi lý
Như trên đã nói, PVN đã ký hợp đồng lập liên doanh với Venezuela vào ngày 29.6.2010, trước khi các cấp có thẩm quyền chính thức cho phép. Nhưng điều đáng nói là như công văn của Bộ Tài chính chỉ ra, trong hợp đồng này, PVN đã chấp nhận một điều khoản cực kỳ phi lý: Phía VN phải trả “phí tham gia” (bonus) cho Venezuela với mức 1 USD/thùng dầu. Trong vòng 30 tháng, bất kể có dầu hay không, PVN vẫn phải nộp đủ phí này là 584 triệu USD bằng tiền mặt.
Trước ngày 12.5.2011, khi liên doanh chưa hoàn thành thủ tục đăng ký với cơ quan chức năng Venezuela, PVN đã phải chuyển 300 triệu USD tiền mặt sang nộp cho Venezuela; ngày 12.5.2012, PVN lại nộp cho Venezuela 142 triệu USD khác (đợt 2). Trong khi “kết quả khoan và khai thác siêu sớm không đạt được như kỳ vọng nên bức tranh sản lượng toàn mỏ có khả năng không được như dự kiến”, ngày 12.5.2013, PVN vẫn phải nộp cho Venezuela 142 triệu USD (đợt 3). 15 ngày sau thời hạn này, nếu không nộp đủ tiền, “toàn bộ cổ phần” của PVN trong liên doanh sẽ “tự động bị chuyển” cho đối tác Venezuela; phía PVN/PVEF cũng sẽ “không được quyền thanh toán hoặc đền bù bất cứ đồng nào từ các khoản đã đóng góp, vay vốn hay đầu tư” ở Junin 2.
Những sai phạm ở PVFC đã tạo thêm một “vũng lầy” cho PVN có phần nghiêm trọng hơn cả khoản thua lỗ của Tổng công ty xây lắp dầu khí (PVC) và khoản góp vốn mất trắng theo OceanBank.
Năm 2013, ban lãnh đạo mới của PVN đã phải quyết định đơn phương không thực hiện bản cam kết này vì nếu có góp thêm 142 triệu USD cũng chưa chắc thu được thùng dầu nào, chấp nhận mất 442 triệu USD tiền “phí tham gia”, 90 triệu USD tiền góp vốn và các chi phí lớn khác mà đến nay vẫn chưa khắc phục xong hậu quả.
Không chỉ sai phạm về việc tuân thủ các quy trình, thủ tục đầu tư; ký hợp đồng khi chưa được các cấp có thẩm quyền cho phép…, tiến trình thực hiện dự án còn cho thấy rằng, PVN đã báo cáo sai sự thật về kết quả thăm dò, về đánh giá trữ lượng, bỏ qua các cảnh báo rủi ro, làm mất mát một lượng vốn khổng lồ của nhà nước. Chưa kể nhiều chi phí khác, ai chịu trách nhiệm về khoản thất thoát 532 triệu USD – hơn 11.000 tỉ đồng “tiền tươi thóc thật” này?
Anh Vũ
Tại sao, Venezuela ?

18/06/2016 14:11 GMT+7

TTCT – Điều gì đã dẫn đến cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế – xã hội vô cùng nghiêm trọng hiện nay ở Venezuela, một đất nước dầu hỏa hàng đầu theo “chủ nghĩa  ay ở Venezuela, một đất nước dầu hỏa hàng đầu theo “chủ nghĩa Chavez”?

Dân chúng xếp hàng dài trong siêu thị chỉ để mua giấy vệ sinh -ibtimes.co.uk
Dân chúng xếp hàng dài trong siêu thị chỉ để mua giấy vệ sinh -ibtimes.co.uk
“Venezuela là một quả bom có thể phát nổ bất cứ lúc nào” – Henrique Capriles, cựu ứng cử viên tổng thống của các cuộc bầu cử năm 2012 (đối đầu với tổng thống quá cố Hugo Chavez) và 2013 (với đương kim Tổng thống Nicolas Maduro), cảnh báo trong một cuộc phỏng vấn trên tờ Der Spiegel phát hành thứ bảy tuần rồi.
Nhân vật được xem là một trong những thủ lĩnh của phe đối lập ở Venezuela qua đó bày tỏ sự bất mãn đối với quyết định của Tổng thống Maduro: sang năm 2017 mới tổ chức trưng cầu ý dân về việc bãi nhiệm ông hay không.
Phe đối lập muốn tổ chức trưng cầu trước tháng 1-2017 để tận dụng tâm lý bất mãn trong dân chúng hiện giờ và tổ chức bầu một tổng thống mới, tức “xóa bài làm lại”, còn nếu cứ lần lữa qua năm 2017 thì có khả năng phó tổng thống sẽ lên thay, tức vẫn là đảng cầm quyền hiện nay.
Phe đối lập cáo buộc chính quyền Maduro điều hành yếu kém khiến quốc gia giàu dầu mỏ này rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ hiện nay. Thủ lĩnh đối lập Capriles nhắc lại: “Cuộc khủng hoảng trong hai năm qua đã trở nên tồi tệ, quốc gia này đang bị hủy hoại và chết dần… Trong những tuần sắp tới, tình hình thiếu hụt này sẽ làm trầm trọng hơn nữa…
Chúng tôi không muốn có một cuộc đảo chính mà là một cái gì khác”. “Cái gì khác” chính là sự ra đi của Tổng thống Maduro và kết thúc tình hình bế tắc chính trị hiện tại, mà theo ông Capriles thì “ông Maduro đã vi hiến khi tuyên bố bằng sắc lệnh tình trạng khẩn cấp.
Quyết định của ông đã bị từ chối bởi quốc hội”. Ông Capriles cũng muốn chấm dứt điều ông gọi là “chủ nghĩa Chavez”: “Những cuộc trưng cầu ý dân được quy định bởi hiến pháp và cuộc bỏ phiếu sau đó sẽ là lối thoát duy nhất của cuộc khủng hoảng”.
Thế lực thù địch?
Trong số các giải thích hiện thời từ phía chính quyền, nổi bật nhất vẫn là lý lẽ “âm mưu lật đổ của đế quốc Mỹ”. Báo L’Humanité (Nhân Đạo) của Đảng Cộng sản Pháp ngày 19-5-2016 chạy tít: “Tổng thống Nicolas Maduro tố cáo một kế hoạch Condor mới”.
Kế hoạch Condor, còn gọi là chiến dịch Condor, là tên của một chiến dịch mật thanh toán cánh tả, khởi sự từ năm 1968 ở Nam Mỹ (đặc biệt là ở Argentina, Chile, Uruguay, Paraguay, Bolivia và Brazil), có dính líu đến cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Henry Kissinger, nhằm đánh bật gốc ảnh hưởng cộng sản và của Liên Xô vào lúc đó ở khu vực này, nhắm vào cả các chính phủ cánh tả lẫn các phe đối lập thiên tả.
Khoảng 60.000 người được cho là đã thiệt mạng vì chiến dịch Condor, trong đó có tổng thống Salvador Allende của Chile năm 1973.
Tổng thống Maduro, trong một thông điệp truyền hình, cho rằng đất nước Venezuela đang phải đối mặt với một âm mưu gây bất ổn định nghiêm trọng và nguy hiểm nhất ở khu vực trong một thời gian dài vừa qua, bắt đầu bằng cuộc tấn công nhắm vào nữ tổng thống Brazil vừa bị truất phế Dilma Rousseff, cũng là một đại diện của cánh tả.
Cũng theo ông Maduro, đây không phải là lần đầu “bàn tay nước ngoài” can dự vào chính trị Nam Mỹ nói chung và Venezuela nói riêng. Ông nói năm 2002, cố tổng thống Chavez từng là mục tiêu của một âm mưu đảo chính; năm 2003 là cuộc đình công của giới chủ nhân trong lĩnh vực dầu hỏa.
Tổng thống Maduro nhấn mạnh: “Đế quốc đang ra sức khôi phục tầm ảnh hưởng đã bị mất trong thập niên trước do sự thắng cử của các đảng cánh tả và trung tả.
Đế quốc muốn biến châu Mỹ của chúng ta trở lại thành sân sau của mình, muốn giành lại ảnh hưởng chiến lược hầu nắm lấy tài nguyên thiên nhiên của chúng ta, và trên bình diện quốc tế, muốn qua đó quấy phá Trung Quốc, Nga, phá hoại khối BRICS – liên minh quy tụ Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi”.
Theo ông Maduro: “Nay đến lượt Caracas gánh chịu một âm mưu lật đổ, với sự trợ giúp của một thế lực truyền thông quốc tế nhằm loại bỏ Đảng Xã hội thống nhất cầm quyền bằng cách dựng lên những màn bạo động”.
Ông Maduro tố cáo rằng một máy bay Boeing do thám của Hoa Kỳ đã không ngừng xâm phạm không phận Venezuela, gần biên giới với Colombia, để hỗ trợ truyền tin cho các nhóm vũ trang và để gây nhiễu hầu khiến các thiết bị thông tin của chính phủ, quân đội và cả bộ máy kinh tế của Venezuela trở nên vô dụng.
Theo ông Maduro, riêng trong vế sau cùng này, bộ máy kinh tế, tình hình là vô cùng đáng báo động, do giới chủ ở Venezuela nay đang giở lại những chiêu thức cũ mà những người đồng nghiệp Chile của họ từng sử dụng để lật đổ tổng thống Allende vào năm 1972, tức phong tỏa nền kinh tế, qua đó làm tê liệt đất nước.
Chính vì thế mà, cũng theo L’Humanité, Tổng thống Maduro ra sắc lệnh tuyên bố tình trạng đặc biệt chính trị và khẩn cấp kinh tế, kêu gọi các công nhân viên chiếm lấy các xí nghiệp nào tham gia chiến dịch làm khan hiếm lương thực, khiến các cơ sở sản xuất ở Venezuela chỉ hoạt động với 43,8% công suất.
Ông Maduro còn loan báo một dự án tiến hành sản xuất nông nghiệp ở các đô thị nhằm tháo gỡ nạn khan hiếm lương thực: bước đầu, một khoản ngân sách lên đến 100 triệu USD đã được tháo khoán để giúp dân chúng khôi phục các cơ sở nông nghiệp đã đóng cửa.
Song, theo L’Humanité, phe đối lập đang chiếm đa số trong quốc hội đã tuyên bố sẽ chống lại sắc lệnh mở rộng tình trạng đặc biệt chính trị và tình trạng khẩn cấp kinh tế, kêu gọi xuống đường và bất tuân lệnh chính phủ – điều từng diễn ra cách đây hai năm trong những cuộc tuần hành và bạo động khiến hơn 40 người chết.
Tình hình bất ổn hồi năm 2014 từng được một cây bút của cơ quan ngôn luận Đảng Cộng sản Pháp, Jean Ortiz, mô tả lại trong một bài báo đậm tinh thần đoàn kết giai cấp: “Cuộc tấn công nhằm làm lung lay cuộc Cách mạng Bolivar (tên gọi của chế độ Chavez và Venezuela) bằng bạo động và nổi loạn đã thất bại.
Đồng lãnh đạo cánh cực hữu là Maria Corina Machado, trong một thư điện tử trao đổi với các nhà ngoại giao Bắc Mỹ, đã viết: “Cái chuồng heo vẫn chưa được dọn… Trừ một phần tầng lớp trung lưu, dân chúng đã không đi theo phe nổi loạn…
Tổng thống hợp pháp Nicolas Maduro đã tháo gỡ ngòi nổ của làn sóng bạo lực được chỉ huy bởi các lực lượng quốc gia, và bởi Washington, CIA (Cục Tình báo trung ương Mỹ), các cơ quan đế quốc dưới dạng các tổ chức phi chính phủ, USAID (Cơ quan Viện trợ phát triển Mỹ), NED (Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ), các băng đảng ma túy, bọn phát xít Colombia…”.
Lỗi tại ai?
Thế nhưng, L’Humanité không chỉ nhìn thấy “âm mưu của các thế lực thù địch”. Cũng trong bài báo nêu trên, tác giả đã nhìn lại tình hình trong góc nhìn “phê và tự phê” với những người đang cầm quyền ở Caracas: “Phải chăng cuộc cách mạng đã chệch hướng, ra khỏi con đường xã hội chủ nghĩa?
Câu hỏi này làm lu mờ chủ nghĩa Chavez cùng các thành tựu đáng kể. Liệu Tổng thống Maduro chỉ cần tiếp tục di sản của Chavez hay phải còn hơn là một người thừa kế? Ông ấy đã hiểu ra rằng mình phải “cụ thể” hơn và có được hậu thuẫn của đa số trong chủ nghĩa Chavez”.
Tờ L’Humanité nêu ra một số ví dụ cho thấy tân lãnh đạo Maduro chưa có được hậu thuẫn của đa số trong đảng: “Temir Porras, từng điều hành Quỹ phát triển quốc gia và Ngân hàng Phát triển kinh tế xã hội, bị bãi nhiệm tháng 9-2015, từng viết: “Thật khó mà tin rằng kẻ chịu trách nhiệm mọi khó khăn của chúng ta chỉ là phe đối lập…”.
Porras nhấn mạnh rất nhiều đến sự cần thiết của “chủ nghĩa thực dụng kinh tế” nhằm chỉnh lại góc nhắm của đảng cầm quyền. Còn cựu bộ trưởng kế hoạch Jorge Giordani, vừa mới bị cho ra khỏi ban lãnh đạo Đảng Xã hội thống nhất, thì công bố một lá thư rất phê phán và đầy tâm tư, trong đó ông tố cáo những lý luận trống rỗng, các chính sách kinh tế vĩ mô cứ phải được lên kế hoạch, và nêu bật nhu cầu sinh hoạt dân chủ, tập thể và phê phán trong đảng”.
Thế nhưng, có phải những năm tháng Chavez chỉ toàn màu hồng, hay đơn giản là giá dầu cao khi đó khiến cho Venezuela tránh được những rắc rối hiện giờ, khi giá cả tài nguyên mà họ dồi dào nhất này đang tụt dốc không phanh?
Mới đây, tạp chí The Atlantic vừa đăng một bài của Moses Naim và Francisco Toro nhận định rằng kinh tế Venezuela đã tan tác từ trước khủng hoảng giá dầu, vào lúc dầu còn bán được với giá 100 USD/ thùng: bánh mì và giấy vệ sinh đã khan hiếm từ thời đó.
Các tác giả viết: “Chính phủ tùy tiện ném tiền của nhà nước vào các khoản đầu tư ngu ngốc; hoạch định những chính sách phi lý như kiểm soát giá cả và tiền tệ; nạn tham nhũng tràn lan trong giới quan chức vô trách nhiệm và cánh hẩu của họ…
Kiểm soát giá cả từ thực phẩm, thuốc chữa bệnh, đến cả bình ăcquy, tã, giấy vệ sinh! Mục đích bề nổi là để kiểm soát lạm phát và giữ giá hàng hóa phải chăng cho người nghèo, nhưng bất cứ ai với một vốn liếng kinh tế học cơ bản cũng có thể thấy trước hậu quả: khi giá cả được đặt dưới giá thành sản xuất, người bán hàng làm sao đủ khả năng giữ cho các kệ hàng tiếp tục được lấp đầy?
Kiềm chế giá cả bằng biện pháp hành chính chỉ là tạo ra một ảo ảnh và hàng hóa thì biến mất”. Theo các tác giả, các chính sách dân túy đã nuôi dưỡng nguy cơ lạm phát: “Chính phủ hầu như cho không xăng dầu. Hậu quả là chính phủ thiếu ngân quỹ, phải in tiền thêm để chi tiêu”.
Pascal-Emmanuel Gobry của AFP nêu ra những dẫn chứng khác: “Chính phủ không chỉ kiểm soát ngành công nghiệp dầu mỏ, áp đặt thuế “trên trời” những 50% trên vài dự án tư nhân còn sót lại, họ còn quốc hữu hóa các nhà máy gạo, các cơ sở sản xuất nông sản lớn, truất hữu hàng triệu hecta đất nông nghiệp; chiếm một số ngân hàng và đóng cửa một số khác; quốc hữu hóa ngành ximăng; cố gắng quốc hữu ngành khai quặng vàng; sung công nhà máy thép, công ty viễn thông lớn nhất của đất nước, công ty sản xuất điện lớn nhất và nhiều thứ khác nữa…”.
Song, vấn đề không dừng ở đó. Theo Pascal-Emmanuel Gobry: “Những người thân cận chế độ lại được hưởng những thứ khác. Nạn tham nhũng như tên lửa thăng thiên từ khi bắt đầu cuộc cách mạng Bolivar.
Theo Viện nghiên cứu CATO, 22,5 tỉ USD từ công quỹ đã bị chuyển ra các tài khoản ở nước ngoài mà không có một giải thích nào khả dĩ”.
Dò trên bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Tổ chức Minh bạch quốc tế, Venezuela xếp hạng 158/168! Nhưng có phải cứ chính phủ xã hội là thất bại? Noah Smith viết trên Bloomberg rằng Pháp, Đức và khối nước châu Âu vẫn giữ y tế nhà nước như là phúc lợi mà vẫn cứ thành tựu kinh tế đấy thôi! Vấn đề là “dục tốc bất đạt” – Noah Smith kết luận. Có thể thêm: không thể đem cả một xã hội ra làm thí nghiệm!■

DANH ĐỨC

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: