VNTB – Bi kịch một đời thơ Chế Lan Viên

23.7.17

VNThoibao

Giang Nam (VNTB) Trong giàn thơ “cách mạng” thế kỷ 20, Tố Hữu và Chế Lan Viên là hai cây bút chiếm vị trí đặc biệt. (Tố Hữu ngồi riêng một chiếu một mâm, là quan chức cao cấp làm thơ. Nghề chính của Tố là chính trị, làm thơ chỉ là tay trái, vậy không bàn về ông ta như một nhà thơ nữa). Chế Lan Viên là công chức làm thơ, lãnh lương. Làm thơ là công việc chủ yếu, và làm báo văn nghệ (Không kể ông ấy đã làm đại biểu quốc hội tới 3 khoá liền, nhưng đi họp QH chỉ là dịp “tranh thủ ngồi nghĩ thơ”, chừng nào nghe chủ toạ hô thì giơ tay biểu quyết đồng ý, nên cũng không coi ông là chính khách). Do đó dịp này chỉ bàn về Chế Lan Viên như một nhà thơ đúng nghĩa, danh chính ngôn thuận.

Chế Lan Viên ký họa
Quá trình làm thơ của Chế Lan Viên gồm ba giai đoạn.
Giai đoạn 1, Chế Lan Viên thường gọi nhà thơ tiền chiến, với tập thơ “Điêu tàn” tiêu biểu, sau là tập tản văn “Vàng sao”.
Giai đoạn 2, chiếm trọn lứa tuổi trưởng thành sung sức tới khi nghỉ hưu. Được gọi tên là “nhà thơ cách mạng”. Sau 1954 tập kết ra Bác, làm tuyên huấn một thời gian rồi chuyển sang báo Văn nghệ, Hội nhà văn.
Thành tích thơ văn cách mạng của Chế Lan Viên:
– Khoảng hơn 1 chục tập thơ,
– Khoảng gần 1 chục tập tản văn, bút ký (xã hội, chính trị, thời sự),
– Khoảng 1 chục tập văn phê bình, lí luận văn học (văn nghệ)
Giới nghiên cứu phê bình văn học đương thời thống nhất chỉ ra một nét cơ bản của thơ Chế Lan Viên: “nhà thơ trí tuệ”. “Danh hiệu” này là con dao hai lưỡi, một lưỡi là ca tụng chất trí tuệ dồi dào của cây bút, hai là: vô hình trung chê Chế không phải nhà thơ (điều này ngoài ý muốn của giới nghiên cứu đương thời). Bởi, đặc trưng của Thơ là cảm xúc, không phải trí tuệ. Trí tuệ là đặc trưng nhà triết học, nhà tư tưởng. Nhưng Chế chưa bao giờ có đóng góp vào nền triết học. Hoá ra cả đời Chế loay hoay muốn làm nhà triết học, ông chỉ dùng hình thức thơ để chuyển tải triết lý. Ăn cây táo rào cây lê. Toàn là triết lý vụn vặt, nguỵ biện, tư biện. Nhìn lại ba chục tập sách của ông thì rõ: chục tập thơ chỉ là cách thơ hoá sự nghiền ngẫm triết học, đồng bản chất với hai chục tập văn kia. Rút cục, cái quan định luận, không biết bây giờ phải gọi ông là “nhà” gì cho thích đáng.
Đọc bài thơ “cách mạng” cuối cùng.
1975: “Ngày vĩ đại” – bài thơ nghênh ngáo và bạc bẽo với máu xương. (Viết ngày 3/5/1975, in trong tập thơ “Hái theo mùa” (1976),
“Tỉnh thức vĩ đại mà cứ ngỡ cơn mơ vĩ đại,
Có phải ta vừa giành lại non sông, có phải ?”
Ngôn từ khoa trương cường điệu, thủ pháp lạ hoá của Chế là một đặc trưng thi pháp của ông. Cảm xúc giả tạo. Cái gì ông thích thì đều là “vĩ đại”! Ngày 30/4 ấy, với nghệ sĩ Văn Cao đó là “mùa bình thường, mùa vui nay đã về”. Với ông cụ thân sinh của tôi, 30/4 là ngày ông thắp nhang khấn vái tổ tiên và bảo tôi “Hai thằng anh mày sống rồi, sắp về nhà rồi, con ạ” (hai anh tôi đang ở chiến trường miền Nam).
Dẫu sao, vô ý mà Chế Lan Viên đã nói một điều rất thực vốn bị che giấu dưới những lý tưởng đẹp đẽ, cao cả của giới tuyên truyền. Ngày 30/4là ngày giành giật được tất cả đất đai lãnh thổ:
“Ta chưa xong một câu thơ thì đã thu hồi hàng trăm dặm đất
Tổ quốc thu về bán đảo Sơn Trà và những Ngũ Hành Sơn”
Ngoặt một cái ta có gấp đôi đất và gấp đôi trời bể”
Rồi, Chế lại rơi trở lại khoa trương cường điệu, chém gió:
“Ngoặt một cái ta lành nghìn vết thương Bến Hải
Ngoặt một cái sạch hết bùn, chỉ có hoa sen.
Ta vứt hết thương đau và thành vĩ đại”.
Bao nhiêu núi xương sông máu đổ ra 20 năm mà nhà thơ viết “ngoặt một cái”, như ông ta bật cái công tắc đèn. Câu này lại viết đúng về sự bạc bẽo “Ta vứt hết thương đau” !?
Nhà thơ và Điêu Tàn
Suốt bài thơ dài, là lí luận miên man chắp vá về lịch sử dân tộc như một cây bút cuồng ngôn (chúng tôi không đủ kiên nhẫn dẫn lại nữa).
Chế viết phần Kết.
Với mọi bài thơ, phần Kết là quan trọng nhất.
Chế không hề viết một chữ đến nỗi đau hàng triệu chiến sĩ và hàng triệu thân phận tổn thất vì chiến tranh.
Vậy, ông Chế nghĩ đến ai?
Đây này:
“Đất nước vinh quang thì đã vắng Bác rồi
Máu lòng Người đau tận chót Cà Mau
Miệng Người đắng vì bát cơm Phú Lợi
Tóc bạc phơ nhanh từng sợi trên đầu”.
Sau đó, Chế thương cảm đến “mái tóc”các Lãnh tụ khác:
“Ba mươi năm, cho tôi kính chào các Anh tôi những mái tóc trắng màu,
những mái tóc hoa râm
Khi theo Bác ra đi, tóc các Anh còn xanh, bây giờ tóc bạc”.
Tôi không tin. Tôi nghi ngờ cảm xúc của nhà thơ là giả tạo, vào cái ngày chấm dứt chiến tranh ấy. Đó chỉ là thơ nịnh. Chao ôi đến giờ này còn nịnh, riết thành quen rồi !
Kết
Bài thơ “Ngày vĩ đại” Chế viết ngày 3 tháng 5 năm 1975. Có lẽ, còn bao hơi sức “cách mạng” ông trút ra hết để rồi sau đó khép hẳn lại hai giai đoạn chính của đời thơ “tiền chiến” và “cách mạng”.
Sau bài thơ trên, nhà thơ sẽ bế tắc, lúng túng, sượng sùng và bước vào giai đoạn Di cảo.
Giai đoạn 3: Di cảo
Năm 1987: “Ai ? Tôi !”- bài thơ dũng cảm, bức xúc, nhận lỗi.
Ai? Tôi!
(Chế Lan Viên)
Mậu Thân 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết hai nghìn người đó?
Tôi !
Tôi – người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
trong mọi cuộc xung phong.
Một trong ba mươi người kia ở mặt trận về, sau mười năm
Ngồi bán quán bên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy mọi cỡ,
Chả huân chương nào nuôi được người lính cũ!
Ai chịu trách nhiệm vậy?
Lại chính là tôi !
Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời,
Tôi ú ớ.
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm người ấy xung phong
Mà tôi xấu hổ.
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
Giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay vẫn có thể cười
(Rút trong sổ tay thơ tập 5 của tác giả năm 1987)
Lời bình của Thuỳ Anh khi đọc Di cảo Chế Lan Viên
Trong những ngày tháng Bảy này, người ta nói nhiều đến việc tri ân liệt sĩ bằng việc dâng hương tưởng niệm, đến thăm các gia đình thương binh liệt sĩ… Nhưng có một việc mà họ đã quên, hay là cố tình quên đi, đó là trách nhiệm với vấn đề dân tộc hôm nay. Tri ân không phải chỉ là những hành động mang tính hình thức đó, mà phải là những việc làm thiết thực vì cuộc sống của nhân dân. Môi trường bị tàn phá, những công trình nghìn tỉ đắp chiếu, những dự án xây dựng méo mó với kinh phí cao gấp nhiều lần bình thường, biển đảo bị xâm chiếm v.v… Những điều đó đang diễn ra, và thủ phạm vẫn nhởn nhơ tại vị, không những không nhận trách nhiệm, mà còn ngang nhiên tiếp tục lộng quyền! Sự hy sinh của những người lính là vì những con người như vậy ư? Vì một cuộc sống như thế sao?
Từ trái: Thép Mới, Nguyễn Tuân, Chế Lan Viên, Đỗ Quảng và Huy Cận
Tôi chợt nhớ đến mấy câu này của nhà thơ “thần đồng” Trần Đăng Khoa:
“Nhân dân là mác là chông. Là sông là núi cũng không là gì”. (trích “Chả lẽ ông Chủ tịch thành phố Hà Nội không có lỗi gì trong vụ chặt cây” – FB.Trần Đăng Khoa).
Sự hy sinh của những người lính (…), thế nhưng gia đình liệt sĩ thì người mất đã mất, người còn thì sống trong tàn tạ của đói nghèo và đau thương. Thương binh, lính chiến trở về thì lay lắt với đủ nghề bé mọn. Không ấm, chẳng no! Không tiền, không quyền! Chỉ có “quá khứ hào hùng” còn vang vọng trong tiếng súng nổ, bom rơi váng óc còn mãi ám ảnh không dứt. Sâu thẳm tâm linh nhà thơ Chế Lan Viên đã xấu hổ và xót xa vì sự hy sinh của những người lính ấy dường như là phi lý, bởi hiện thực cay đắng này! Độc lập dân tộc đã có, nhưng vẫn thiếu hạnh phúc, ấm no”.
Lời bình của Giang Nam
Qua bài thơ “ Ai?- Tôi!”, Chế Lan Viên đã nhận trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm nhà thơ, không đổ thừa cho ai cả ; Mặc dù nhà thơ có quyền truy cứu đến cùng đích danh thủ phạm.
Giới nghiên cứu văn học, mỹ học đã đúc kết ra 6 loại bi kịch của con người thường được thể hiện trong lịch sử văn học nghệ thuật. Chế Lan Viên thuộc loại bi kịch hỗn hợp giao thoa của ba loại bi kịch: Bi kịch vỡ mộng, bi kịch của sự lầm lẫn, bi kịch của sự cả tin.
Nhà thơ Chế với tập Di cảo đã có một cố gắng cuối cùng, phá vòng vây bi kịch thoát ra. Cây bút Vũ Thị Thường vợ ông đã cố gắng giữ gìn di cảo và đưa tới nhà xuất bản, thực hiện di nguyện của ông. Đó là điều đáng ghi nhận ở bà.
Bi kịch Chế Lan Viên xứng đáng điển hình cho bi kịch văn nghệ sĩ “cách mạng” Việt Nam.
Tiếc thay, những nhà thơ phản tỉnh, nhận lỗi công khai còn quá ít, đếm chưa đủ ngón bàn tay *[3]trong đội ngũ cả nghìn cây bút thời chiến tranh. Bên cạnh Chế Lan Viên, hiếm có một nhà giáo dạy Văn đại học như GS Trần Đình Sử đã lên tiếng xin lỗi cựu sinh viên về những bài giảng ấu trĩ thời xưa của ông. Phần lớn họ giữ im lặng. Nói làm sao bây giờ ! Nhưng chưa nói thì chưa thể nhẹ lòng, vẫn còn mang đó nỗi hận dài.
Phải chăng họ còn nợ những người ngã xuống một câu Kiều:
Nợ tình chưa trả cho ai
Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan.
Chú thích
[1]* . Đọc một đoạn bài thơ “Cáí sọ người:”Ta muốn cắn mi ra từng mảnh nhỏ /Muốn điên cuồng nuốt cả khối xương khô / Để nếm lại cả một thời xưa cũ/ Cả một dòng năm tháng đã trôi xa!”. Nhà thơ tỏ lòng thương tiếc vương quốc Champa quá vãng trong lịch sử thực ra chỉ là biểu hiện của chủ nghĩa hư vô lịch sử. Vô ích ! Người dân Chăm cũng chẳng cần đọc thơ này làm gì nữa.
[2]* . Trích tản văn Vàng sao: “Mở chiếc áo để tìm vú mẹ, ta băn khoăn mở đôi cánh cửa, tìm trời. Chỉ một cử chỉ đó thôi mà ta tưởng đã lìa bỏ một cái gì để đưa mình vào một cái gì khác lạ. Thật thế, cách đây ba bước, ấy là phiền hà sâu bọ của cuộc đời: bữa cơm không ngon, đôi giày sắp thủng, bức thư nhạt nhẽo của cô nhân tình, tánh hạnh ngỗ nghịch của mấy ông học trò khó dạy. Nhưng bây giờ ta đã có một cõi khinh thanh”.
[3]* . Có thể kể một số cây bút phản tỉnh tiêu biểu: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Khải, Trần Quang Huy, Lưu Quang Vũ, Bảo Ninh, Dương Hương Ly…
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: