Phổ cập casino: Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm (Bài 1)

Phạm Chí Dũng
Đăng bởi Eric hwang vào Thứ Năm, ngày 21 tháng 8 năm 2014 | 21.8.14

(VNTB) – Ba năm trước, hòa trong chiến thắng của chiến dịch xóa đất nông nghiệp để phục vụ cho hơn 100 sân golf, những đối tượng còn chút ngu ngơ day dứt trong làng báo nhà nước đã phải thảm thiết một biến tấu cực kỳ chua xót “Khi người cày có… casino”. Ba năm sau, đúng vào thời điểm nền kinh tế đang trên bờ vực khủng hoảng và nhà cầm quyền phải hình dung ra một cận cảnh quỹ lương hưu biến mất, lại một lần nữa giới làm luật cùng các nhóm lợi ích tính đến chuyện mở đại trà sòng bạc để “tận thu”.

Nhưng khác hẳn thời gian trước “chỉ cho người nước ngoài đánh bạc”, tâm thế hiện thời còn muốn tạo điều kiện cho cả lớp trẻ người Việt trên 21 tuổi được “cống hiến”. Thêm một bi kịch casino đối với mọi con dân nước Việt rất có thể từ đó mà ung nảy.

Casino ở Campuchia, nơi chủ yếu khách Việt đến chơi

Bài 1

Trong một đất nước với nền nông nghiệp vẫn còn đặc trưng bởi nền văn hóa lúa nước, một đất nước đang đi vào cái thực trạng khốn khổ của nạn “nuốt” đất nông nghiệp, một đất nước mà vào cuối năm 2011, một nghị quyết của Bộ Chính trị đã phải “quyết liệt” đề cập đến yêu cầu giữ cho bằng được 3,8 triệu ha đất nông nghiệp…, thì các casino vẫn điềm nhiên mọc lên.

Đổi đời nhờ “rác”!

Casino vẫn điềm nhiên mọc lên ở nhiều địa phương, từ Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh đến Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên, Bà Rịa – Vũng Tàu, Kiên Giang. Chưa kể đến việc chính quyền các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Bình Thuận cũng từng ấp ủ giấc mơ tiến hành những dự án “đổi đời” như thế.

Có lẽ đáp ứng cho thịnh tình và lòng hiếu khách tràn đầy của các địa phương ở Việt Nam, vào tháng 12/2011, một tập đoàn “ăn chơi” lớn của Mỹ – Las Vegas Sands, đã lần đầu tiên xúc tiến kế hoạch đầu tư khu nghỉ dưỡng phức hợp tại đất nước này, với số vốn đầu tư có thể lên tới 6 tỷ USD. Địa điểm ban đầu dự kiến của tập đoàn này là tại Hà Nội và TP.HCM – hai thành phố có sức cầu lớn nhất và cũng là những khu vực có “hệ số tiêu hoang” cao nhất ở Việt Nam.

Như một “đồng thanh tương ứng”, vào đầu năm 2012, chính quyền tỉnh Quảng Ninh lại đưa ra một dự án đầy tham vọng: xây dựng khu liên hợp du lịch – casino với giá trị đầu tư lên đến 4 tỷ USD. Nếu được thành hình, đây sẽ là một dự án “vĩ đại” nữa, sau Casino Đồ Sơn hình thành từ năm 1995.

Trong trào lưu “tận thu” từ người dân, Quảng Ninh đang biến thành địa phương tham vọng nhất đối với sự nghiệp “móc túi” – nói theo từ ngữ của giới đánh bạc.

Nhưng cũng vì thế, môi trường xã hội ở Quảng Ninh lại có triển vọng được nhận thêm một loại “rác” nữa.

Dù sở hữu “kỳ quan thứ tám” của thế giới, nhưng bất chấp sự bức xúc cùng vô số phản ánh của dư luận khách du lịch, từ nhiều năm qua rác sinh hoạt, rác tiêu dùng vẫn tràn ngập ở Bãi Cháy và Hạ Long, những nơi mà nhiều du khách trong nước và ngoài nước không muốn quay lại một khi đã đặt chân đến.

Hai vợ chồng du khách Astralia, những người đã bỏ công sức để vớt rác trong vịnh Hạ Long, đã thổ lộ: “Tôi và vợ tôi, Christel, đã làm trong ngành y tế ở nhiều nơi như Anh, Úc, Tây Phi, Bắc cực và đảo Solomon. Chúng tôi đã đi du lịch nhiều nơi và có thể nói là vịnh Hạ Long của Việt Nam các bạn là một trong những nơi đẹp nhất. Tuy nhiên, điều làm chúng tôi thấy buồn là khi thăm vịnh Hạ Long, chúng tôi thấy có quá nhiều chai lọ và những loại rác rưởi khác trôi nổi trên vịnh. Đồng thời với rác rưởi là những vệt nước ô nhiễm theo dòng thủy triều gần cảng vịnh. Sự ô nhiễm đó sẽ tàn phá những rạn san hô của Hạ Long một cách dễ dàng. Và nước đục cũng khiến du khách thật sự không muốn bơi”.

Cái nhìn trần trụi của những du khách trên cũng được xác nghiệm bởi một bản báo cáo về hiện trạng ô nhiễm vùng ven biển Việt Nam vào năm 2010, cho thấy vùng nước vịnh Hạ Long được đánh giá là có mức độ ô nhiễm dầu nặng nhất.

Cũng không phải vô cớ mà Quảng Ninh là địa bàn có mật độ hoạt động xã hội đen thuộc loại dày đặc của quốc gia. Những vụ thanh toán giết người bằng súng hoa cải giữa các băng nhóm đã làm thành phố “du lịch vàng” Hạ Long và thị xã Cẩm Phả càng trở nên một nghịch lý kinh khủng trong mắt du khách.

Phạm Chí Dũng

Phổ cập casino: Đánh bạc quen tay, ngủ ngày quen mắt, ăn vặt quen mồm (Bài 2)
Đăng bởi Eric hwang vào Thứ Sáu, ngày 22 tháng 8 năm 2014 | 22.8.14
Phạm Chí Dũng

VNThoibao

(VNTB) – Để có thể phác họa rõ hơn về hình ảnh “Khi dân cày có casino”, chúng ta cần quay trở lại với hình ảnh “Khi người cày có sân golf”.

Golf và casino: Người cày có… cả hai!

Vào năm 2009, khi số lượng sân golf do các địa phương trình lên Chính phủ tăng vọt lên đến 156 dự án, thì một nửa trong số đó đã chiếm hết khoảng 8.000 ha đất nông nghiệp.

Biểu đồ đi lên của sân golf và biểu đồ đi xuống của diện tích đất nông nghiệp là một nghịch lý không thể lý giải hoặc quá dễ phát lộ ở Việt Nam, dù tất cả những người nông dân phải chịu cảnh mất đất để phục vụ cho thói quen ăn chơi của giới thượng lưu, và hơn ai hết là giới chủ đầu tư kinh doanh sân golf và casino đều hiểu ra cái nghịch lý phũ phàng ấy. Song thời gian cứ trôi qua, cùng sự xuất hiện của hết dự án sân golf này đến dự án sân golf khác.

Vào cuối năm 2009, trước làn sóng phản đối mạnh mẽ của dư luận, bao gồm các nhà khoa học và báo chí về những “thói hư tật xấu” của sân golf như gây ảnh hưởng đến môi sinh, môi trường và “ăn” cả đất nông nghiệp, cộng với thực tế chỉ có một tỷ lệ nhỏ nhoi dự án kinh doanh sân golf có lãi, Chính phủ đã phải cắt giảm đến 76 dự án do chính quyền các địa phương trình đề nghị bổ sung cho quy hoạch sân golf đến năm 2020.

Cho tới năm 2011, một hệ quả đã được các nhà khoa học và giới phân tích dự đoán đã xảy đến với 90 dự án sân golf còn lại. Một cuộc kiểm tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kết luận có đến 69 dự án (chiếm tỷ lệ khoảng 70% số dự án) nghiêng về kinh doanh bất động sản thay vì mục tiêu ban đầu là kinh doanh sân golf.

Nguồn cơn của trào lưu sân golf đã hiện ra: chủ đầu tư lấy đất nông nghiệp của nông dân, phù phép chuyển quyền sử dụng đất thành đất phục vụ sân golf rồi từ đó biến thành đất xây biệt thự và các hạng mục dịch vụ du lịch. Trong thực tế, có dự án chỉ dành 30% diện tích để làm sân golf, còn 70% là bất động sản và những thứ liên quan đến bất động sản.

Trong khi hiện trạng hoạt động của 90 dự án sân golf vẫn không mấy thay đổi, nếu không muốn nói là ngày càng tệ thêm vì lượng khách chơi golf có khuynh hướng giảm dần và làm cho nhiều chủ đầu tư lỗ nặng, báo chí đã một lần nữa phải phản ảnh khá nhiều về nạn lạm phát sân golf. Những minh họa sống động như một xã ở Lâm Đồng phải “cõng” đến 3 sân golf, trong khi bà con nông dân người dân tộc thiểu số vẫn còn trong diện đói nghèo. Với những người nông dân này, kế sách mưu sinh của họ thật giống như mành chỉ treo chuông một khi phần đất đai ít ỏi của họ bị sân golf “nuốt” mất. Không đất đai, không có nghề nghiệp gì khác, chỉ cầm trong tay một số tiền tượng trưng mà chủ đầu tư bồi thường cho phần đất thu hồi, họ sẽ sinh sống thế nào?

Không giới chức lãnh đạo nào thèm quan tâm đến những mưu sinh “vụn vặt” ấy. Ngược lại, không khác với sự ngụy biện đối với việc xây dựng sân golf, cũng đã xuất hiện những ý kiến tô điểm cho “ích nước lợi nhà” của casino. Với nhiều chính quyền địa phương, casino là một “cứu cánh” cho du lịch bản địa. Và cũng trùng khớp với dự án sân golf, hầu hết các dự án đầu tư casino đều mô tả triển vọng sáng lạn về giải quyết công ăn việc làm cho người dân địa phương và nguồn thu nhập sẽ dồi dào hơn hẳn để “xóa đói giảm nghèo”.

Xem ra, những lý do trên có vẻ khá “hợp lý” đối với những trường hợp như Phú Yên – nơi mà từ quá nhiều năm nay đã chẳng làm được một việc gì có kết quả đáng kể để tận dụng tiềm năng du lịch sẵn có của mình, trong khi lại phải cầu cạnh đến nguồn thu nhập từ chuyện đánh bạc.

Phạm Chí Dũng

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: