Về một bài viết của Giáo sư Vũ Quốc Thúc trong sách “Luật học Kinh tế Tạp chí” số 2 năm

LS Lê Công Định

 fLecongdinh

Nhân xem lại quyển “Luật học Kinh tế Tạp chí” số 2 năm 1963, do trường Luật khoa Đại học Sài Gòn ấn hành, tôi đọc lại một bài lý thú của Giáo sư Vũ Quốc Thúc, mang tựa đề “Tại sao tôi trở thành giáo sư kinh tế học?” Đọc lần đầu nhiều năm trước đây, tôi đã ấn tượng, bây giờ xem lần nữa càng ấn tượng hơn, vì những nhận xét tinh tế và trung thực của ông.

Giáo sư Vũ Quốc Thúc, sinh năm 1920, là một kinh tế gia và chính khách lỗi lạc dưới thời Quốc Gia Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa. Ông từng xây dựng nên chương trình cử nhân và cao học kinh tế tại hai trường Luật khoa Đại học và Học viện Quốc gia Hành chánh, đồng tác giả của “Kế hoạch Lilienthal-Vũ Quốc Thúc” (kế hoạch hậu chiến phát triển kinh tế miền Nam Việt Nam). Ông cũng từng giữ nhiều chức vụ cao cấp như Phó Thủ tướng, Thống đốc Ngân hàng Quốc gia, Bộ trưởng Giáo dục, Quốc Vụ Khanh đặc trách tái thiết hậu chiến, v.v… của các chính phủ ở miền Nam. Năm 1978, nhờ sự can thiệp của Thủ tướng Pháp đương thời là ông Raymond Barre, bạn đồng môn và kinh tế gia, Giáo sư Thúc sang Pháp sinh sống, ngụ tại Nanterre, rồi nhận ghế Giáo sư Thực thụ tại Đại học Paris cho đến ngày hưu trí vào năm 1988. Năm nay tuy đã cao tuổi, giáo sư vẫn minh mẫn và đầy nhiệt huyết trước tình hình đất nước.

Trong bài viết nói trên, Giáo sư Thúc nêu nhiều nguyên nhân dẫn dắt ông đến môn kinh tế học, một phần do lựa chọn cá nhân, một phần do hoàn cảnh lẫn thời cuộc đưa ông đến quyết định theo đuổi con đường học thuật để trở thành một vị giáo sư danh giá, trong đó có một vài lý do quan trọng tối hậu như sau, nguyên văn theo lời ông tường thuật:

“Lúc mới vào nghề [luật sư tập sự], tôi thấy rất hào hứng vì nghề này đã mang lại cho tôi sự tự do mà tôi vẫn khao khát. Nhưng cuộc chính biến ngày 19 tháng 12 năm 1946, đã bắt tôi rời bỏ Hà Nội để tản cư về chiến khu 3. Ở đây, tôi đã bị trưng tập để biện hộ cho các bị can trước Tòa Án Quân Sự lưu động của Việt Minh. Trong hơn một năm hành nghề, tôi đã thấy tất cả cái giả dối của lối xử án Việt Minh. Với tư cách luật sư trưng tập, tôi được gọi đến địa điểm xử án, được phép tiếp xúc với bị can và nghiên cứu hồ sơ trong 24 giờ. Trong thời gian đó, các thẩm phán Tòa Án Quân Sự đã họp trước với công cáo ủy viên để quyết định sẵn về số phận của từng bị can. Rút cục, phiên tòa công khai chỉ là một tấn kịch vĩ đại. Dù có trổ tài hùng biện đến đâu chăng nữa, các luật sư cũng không thể thay đổi bản án đã định trước. Luật sư biến thành một kép hát để đánh lừa công chúng! Trong hoàn cảnh này, dĩ nhiên tôi đã mất hết mọi hứng thú đối với nghề biện hộ.” (Trang 16 và 17)

“Một việc xảy ra, vào mùa thu năm 1947, ở chiến khu 3, đã cho tôi nhận thấy rõ ràng hiệu lực đáng sợ của thủ đoạn tuyên truyền [về chủ nghĩa Mác Xít] ấy. Sau một hội nghị văn hóa, tôi có dịp ngủ lại ở cơ quan cùng với một cán bộ Cộng Sản. Anh cán bộ này là một giáo viên tiểu học cũ. Nhận thấy tôi có theo học khoa kinh tế, anh ta đã thức suốt một đêm để thảo luận cùng tôi về tương lai của nền tư bản Âu-Mỹ. Dĩ nhiên anh ta đã thuộc lòng tất cả luận hệ của Karl Marx. Anh ta rất bực mình thấy tôi bất đồng ý kiến. Về phần tôi, tôi cũng rất buồn là với tất cả các bằng cấp đại học, tôi vẫn không thuyết phục nổi anh ta.

Cuộc gặp gỡ này đã mang lại cho tôi một kết quả bất ngờ: tôi đã tìm được chí hướng! Chí hướng đó là tranh đấu tích cực để chống lại những ý kiến sai lầm mà các tín đồ Mác Xít đang tung ra, dưới chiêu bài “Kinh tế học”. Từ ngày ấy trở đi, tâm trạng tôi thay đổi hẳn. Tôi không còn hoang mang và chán nản như trước. Tôi đã tìm được một ý nghĩa cho cuộc sống: ý nghĩa này đem lại cho tôi nghị lực cần thiết để phát họa cả một chương trình hành động.

Trước hết, tôi đã không ngần ngại rời bỏ chiến khu 3 để về Hà Nội vào mùa hè năm 1948, mặc dầu lúc đó Việt Cộng bắt đầu khủng bố dữ dội những kẻ vào thành. Về tới Hà Nội, tôi lập tức tìm cách xuất dương để khảo cứu thêm về kinh tế học. Không hy vọng xin học bổng, tôi đành nhận làm việc tạm cho Chính Phủ Trung Ương Lâm Thời với điều kiện được gửi sang Pháp sau 6 tháng. Đến tháng 3 năm 1949 tôi được phép xuống tàu sang Pháp.” (Trang 18 và 19)

Thật ra, trước đây, có dịp tranh luận với những người bị “nhuộm đỏ” như ông cán bộ tuyên truyền kia, tôi cũng mang tâm trạng buồn phiền, bực dọc, như Giáo sư Vũ Quốc Thúc, vì công lao học hành và đọc sách của mình không thể thắng được một cái đầu bị tẩy não. Sau này, trở nên điềm đạm hơn, mỗi khi nghe giọng điệu “khó ưa” như thế của ai đó cất lên, tôi nghĩ ngay trong đầu: “lại thêm một chú khỉ đít đỏ nữa!”, rồi nở nụ cười tươi như hoa đáp lại, mà không màng đối đáp để giữ hòa khí.

Thấy nhiều bạn facebookers ngày nay lời qua tiếng lại với các dư luận viên, tôi chỉ muốn kể câu chuyện nêu trên để các bạn suy ngẫm. Chuyện cần làm thì mình cứ làm, đừng nhọc công và mất thì giờ với họ. Cãi hăng, văng tục, là điều không nên. Đã không cùng chí hướng và suy nghĩ, thì tuy vẫn tôn trọng nhau, nhưng gặp nhau làm gì phí thời gian? Block!

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: