Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh
sinh bình khảo
Hồ Tuấn Hùng
Người dịch: Thái Văn
  

Tên thật: Nguyễn Tất Thành,
Thời kỳ đầu hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, sau đổi thành Hồ Chí
Minh.
Sinh ngày 19 tháng năm năm
1890 tại làng Kim Liên, xã Nam Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, Việt Nam
trong một gia đình trí thức nho học.
Năm 1920 gia nhập Đảng Cộng
sản Pháp trở thành người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam.
          Năm
1923 đến Liên Xô tham gia Đại hội Quốc tế nông dân và Đại hội V
Quốc
tế cộng sản.
          Năm 1925 sáng lập “Việt Nam Thanh
niên cách mạng đồng chí hội” ở
Quảng Châu, Trung Quốc.
          Năm 1930 chủ trì thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam tại
Hương
Cảng
(sau đổi thành Đảng Cộng sản Đông Dương).
          Tháng
tám Năm 1945 được cử làm Chủ tịch lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
          Tháng
ba năm 1946 được bầu là Chủ tịch kiêm Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
          Tháng
hai năm 1951, Đảng Cộng sản Đông Dương đổi tên thành
Đảng
Lao động Việt Nam, được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương.
          Ngày 2 tháng chín năm 1969 từ trần tại Hà Nội.
         Lời người dịch
 Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (Tìm hiểu
về cuộc đời Hồ Chí Minh) do Giáo sư Hồ Tuấn Hùng , một người đã tốt nghiệp khoa
Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan dành nhiều công sức nghiên cứu
trong những năm qua, được Nhà xuất bản Bạch
Tượng Văn Hóa
ấn hành tại Đài Loan vào ngày 01/11/2008 (mã số ISBN:
9789866820779).
 Hồ Tuấn Hùng
sinh năm 1949 (có tài liệu nói là sinh năm 1948), tại Miêu Lật, Đồng La, Đài
Loan, là cháu ruột  Hồ Tập Chương (mà ông
khẳng định chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh) từng dạy học hơn 30 năm, đồng thời
ông còn là viên chức cao cấp Giáo Dục Hành Chính. Theo Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, Hồ
Chí Minh xuất thân là người thuộc sắc tộc Khách Gia (Hakka, người Việt gọi là
Hẹ ) tại huyện Miêu Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan.
Toàn bộ cuộc đời hoạt động cách mạng của ông được tác
giả
tìm hiểu kỹ lưỡng trên cơ sở tham khảo nhiều nguồn tư
liệu cũng như nhân chứng. Tác phẩm “Hồ
Chí Minh sinh bình khảo
” dày 342 trang, khổ 15 x 21 cm, bìa cứng, in chữ
nổi.
Phần mở đầu gồm các bài giới thiệu của tiên sinh Chung
Triệu Chính, luật sư Kiệt Chương và của tác giả. Phần chính được chia làm 6
thiên, thứ tự như sau :
I / Hài kịch
tráo rồng đổi phượng
  (Thâu long
chuyển phượng đích hý khúc)
II/ Ve sầu lột
xác, thật giả
kiếp người (Kim
thiền thoát xác thực giả nhân sinh)
III/ Những năm
tháng phiêu bạt
(Phiêu bạc lưu lãng đích tuế nguyệt)
IV/ Khúc ca
buồn về tình yêu, hôn nhân
(Hôn nhân luyến tình đích bi ca) 
V/  Hán văn “Nhật ký trong tù” và “Di chúc
(Hán văn Ngục trung nhật ký dữ Di chúc)
VI/ Hạ màn, đôi
lời cảm nghĩ
(Lạc mạc cảm ngôn)
Cuốn sách khá dày, công việc chuyển ngữ mất nhiều thời
gian và công sức, tuy nhiên, người dịch đã cố gắng dịch trọn vẹn để cung cấp
cho bạn đọc một cái nhìn mới về nhân vật
huyền thoại Hồ Chí Minh, còn việc đúng hay sai xin để công luận thẩm định, chúng tôi không dám lạm bàn.
                                              Tháng
giêng năm 2013
                                                      Thái Văn
Mục lục
Lời giới thiệu 1
  Người kỳ lạ, chuyện kỳ lạ, sách kỳ lạ
Lời giới thiệu 2
Tin có bằng chứng, bổ khuyết
và dựng lại lịch sử
Thay lời tựa
Màn đầu bóc gỡ tấm mạng che
huyền bí
Tấm mạng huyền bí che mặt Hồ
Chí Minh
Hồ Chí Minh có phải đến từ Đài
Loan?
          THIÊN I
Hài kịch tráo rồng đổi phượng
            Màn một
Sự thật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc
Những ẩn số về con người Hồ
Chí Minh
Nguyễn Ái Quốc chết thật hay chết giả?
Báo chí đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết bởi bệnh lao phổi
Bí mật về cái chết của Nguyễn
Ái Quốc
Sai lầm của Hồ Chí Minh về
việc tự nhận “mình đã bị chết”
Hồ sơ bệnh án Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh
Hồ sơ bệnh lao phổi của Nguyễn
Ái Quốc
           Màn hai
Tiết mục Nguyễn Ái Quốc “chết rồi sống lại”
Vụ án Nguyễn Ái Quốc bị bắt tại Hương Cảng
Vụ án “Tòa Hương Cảng thẩm vấn Nguyễn Ái
Quốc”
Viện Khu mật Hoàng gia London xét xử – Chống án
Vụ án Nguyễn Ái Quốc đến Singapore bị buộc phải quay
lại Hương Cảng
Sự kiện Nguyễn Ái Quốc mất tích ở Hương Cảng
Nguyễn Ái Quốc trên đường từ
hương Cảng đến Hạ Môn
Sự kiện Hồ Chí Minh từ Hạ Môn đến Thượng Hải
Bộ phim “Nguyễn Ái Quốc
thoát hiểm ở Hương Cảng”.
              THIÊN II
Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người
 
Thời gian và vũ đài hoạt động
trùng nhau
Cùng lên cũ đài, một ẩn một
hiện
Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Bệnh phổi trầm trọng, sức khỏe suy giảm
Cùng tên nên có sự nhầm lẫn
Hồ sơ Hồ Tập Chương bị bắt ở
Quảng Châu
Những ghi chép về sự kiện Hồ
Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu
Lương Ích Tân viết về sự kiện
Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu
Ngô Trọc Lưu ở Đài Loan và
trường thiên tiểu thuyết “Hồ Chí Minh”
Hồ Tập Chương bị bắt ở Hà Nam,
giam tại nhà ngục “Nam Thạch Đầu”
“Hồi ký Trịnh Siêu
Lân”: Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu
Bí mật “Hồ Tập Chương bị
bắt ở Quảng Châu”
Tiểu sử giản lược Hồ Tập
Chương
Tiểu sử Nguyễn Ái Quốc
Phụ lục1
 Ảnh của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh trong hồ
Phụ lục 2
“Hồi ức Trịnh Siêu Lân –
Truyện Phó Đại Khánh”
             THIÊN III
Những năm tháng Phiêu bạt
                  Màn một
Hồ Chí Minh ở Liên Xô (1933-
1938)
Hồ Chí Minh  đến
Mạc Tư Khoa vào thời gian nảo?
Sự thật về sự kiện Hồ Chí Minh
bị kết án tử hình
Quốc tế cộng sản đạo diễn vở
kịch “Mượn xác hoàn hồn”
Vera Vasilieva và Hồ Chí Minh
Việc cải tạo và học tập của Hồ
Chí Minh
Đại hội đại biểu Quốc tế cộng sản lần thứ VII
Hồ Chí Minh rời khỏi Mạc Tư Khoa
                  Màn hai
Hồ Chí Minh ở Trung Quốc (1938
– 1945)
Ngàn dặm xa xôi đến Diên An
Cơ quan Bát lộ quân Quế Lâm
Ban huấn luyện cán bộ chiến
tranh du kích Hành Sơn, Hồ Nam
Đảng bộ Hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương
Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng
minh
Bị bắt ở Quảng Tây và tập thơ “Nhật ký trong
tù”
Trở lại Bắc Pha, tháng tám
khải ca
Con người thật của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh chấp hành
“nhiệm vụ bí mật”
“Đài Loan nhật nhật tân
báo”
Bảy bức thư từ Trung Quốc
Mười một (11) bài viết trong
“Cứu vong nhật báo”
Hồ Chí Minh ngụy tạo sự kiện
Nguyễn Ái Quốc sống lại
                THIÊN
IV
Khúc ca buồn về chuyện hôn nhân tình ái
Hồ sơ hôn nhân Hồ Chí Minh
Chuyện hoang đường về đạo đức
thánh nhân
Cầu trả về cầu đường trả về
đường
Mối tình đầu của Nguyễn Ái Quốc với cô Breiere
Breiere
và Bourdon
Mối tình đầu của Nguyễn Ái Quốc
Nghi án ái tình giả tạo
Tăng Tuyết Minh, người vợ đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc
Hồ sơ về hôn nhân, tình ái giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng
Tuyết Minh
Hồ sơ về hôn nhân, tình ái
giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh
Trung Cộng ẩn giấu chuyện hôn
nhân Tăng Tuyết Minh
Hôn nhân Tăng Tuyết Minh, thật
giả – một vụ án kép
Tăng Tuyết Minh lúc tuổi già –
Tấm ảnh chân dung
Khói lửa chiến
tranh chứng kiến tình yêu – Nữ sĩ Nguyễn Thị Minh Khai
Tự khúc bi ca ái tình
Hồ sơ hôn nhân của Nguyễn Thị Minh Khai
Sự thật về quan hệ hôn nhân
giữa Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai
Hôn ước của Lê Hồng Phong và Nguyễn Thị Minh Khai
Bí danh P.C.Lin của Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn
Ái Quốc
Hồ Chí Minh và
tri kỷ má hồng – Lâm Y Lan tiểu thư
Hồ sơ về mối tình Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan
Mối tình của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan
Sự thật về mối tình của Lâm Y Lan
Chuyện tình giữa
Hồ Chí Minh và Đỗ Thị Lạc
Mối tình của Hồ
Chí Minh và Nông Thị Xuân
Tổng kết về hôn
nhân và tình ái trong cuộc đời Hồ Chí Minh
                         THIÊN V
  Chữ Hán “Nhật ký trong tù” và “Di chúc”
Khả năng Trung văn của Hồ Chí Minh
Quá trình Nguyễn Ái Quốc học tập ngữ văn
Trình độ ngữ văn của Hồ Tập Chương
Tập thơ “Nhật ký trong tù” của Hồ Chí Minh
134 bài thơ trong tập “Nhật ký trong tù”
“Nhật ký trong tù” là tác phẩm của một người thuộc sắc
tộc Khách Gia
Thư pháp chữ Hán của Hồ Chí Minh
Di chúc của Hồ Chí Minh lúc lâm chung
Nội dung “Di chúc” của Hồ Chí Minh
Những nghi vấn về “Di chúc Hồ Chí Minh”
Những bí mật về việc bảo tồn di thể Hồ Chí Minh

     THIÊN VI
Hạ màn và đôi
lời cảm nghĩ
Lặng lẽ suy tư khi màn hạ
Ghi nhớ lời dặn, nhìn về tương lai
         
Tài liệu tham
khảo
                           Lời giới thiệu 1
              Người kỳ lạ, chuyện kỳ lạ, sách kỳ lạ
Mấy ngày trước, ngài hiệu
trưởng Lý Tú Bằng, một đồng sự đã hồi hưu cùng tác giả cuốn sách “Tìm hiểu
về cuộc đời Hồ Chí Minh” là Hồ Tuấn Hùng đến thăm tệ xá. Nghe Hồ quân nhẹ
nhàng đi tới, khiến tôi càng hiểu rõ về con người kỳ lạ, sự việc kỳ lạ về Hồ
Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, thực làm cho người ta phải đập
bàn kinh sợ, nên đã nhận lời viết mấy dòng thô thiển để bày tỏ lòng mình.
Điều khiến cho tác giả gọi là
“kỳ lạ”, thứ nhất, Hồ Chí Minh đương nhiên là người Đồng La, Miêu
Lật, Đài Loan. Cái mà mọi người đều biết ở Hồ Chí Minh là, vào những năm bốn
mươi, năm mươi của thế kỷ XX, ông được xem là bậc anh hùng thời đại mà Đài Đảo
của chúng ta có vinh dự sinh ra, vốn là con người người bình thường, bỗng nhiên
được một nước khác tôn xưng làm Quốc Phụ.
Thứ hai, Căn cứ vào “Lời
nói đầu” của Hồ quân, Hồ Chí Minh và nhà văn hóa nổi tiếng Đài Loan Ngô
Trọc Lưu trước đây từng quen biết nhau. Ngô tiên sinh còn được coi là tác gia
lớn văn học Đài Loan viết tác phẩm “Đứa con côi châu Á”. Theo cách
hiểu của Hồ quân, “Á thư” chính là viết về con người và sự nghiệp Hồ
Chí Minh. Trong ký ức các bậc cao niên gia đình tôi, Ngô tiên sinh từng nói,
“Á thư” nguyên tên là “Hồ Chí Minh”, nhân vì các thủ lĩnh
cộng sản phụ họa theo, ở thời kỳ phản cộng, chống Nga Xô mãnh liệt, nên buộc
phải đổi thành “Hồ Thái Minh”. Đến khi cuốn sách được được xuất bản
tại Nhật lại đổi tên một lần nữa thành “Đứa con côi châu Á”. Khó mà
tưởng tượng Ông và Hồ Chí Minh lại là chỗ quen biết.
Thật ra trên đời này không
thiếu gì chuyện lạ, nhưng chuyện mà tác giả đã kể quả tình làm tôi choáng váng.
Để đáp lại lời thỉnh cầu của Hồ quân, tôi viết bài tự này.

Tháng 7 năm 2008
                                    Tiền Tổng
thống phủ Tư chính
                                               Chung Triệu Chính
                       Lời giới thiệu 2
Tin có bằng chứng, bổ khuyết và dựng lại lịch sử
Tôi quen biết tác giả Hồ Tuấn
Hùng đã hơn ba mươi năm, nói là bạn thân cũng không quá. Mấy năm trước, trong
một cuộc trò truyện mà tiếng Khách Gia gọi là “đánh trống miệng”, ông
nói đã hoàn thành sự phó thác của gia tộc là tìm hiểu được người chú Hồ Tập
Chương đã mất tích nhiều năm trong thời loạn. Thật đáng tiếc là lúc đầu, gia
tộc không mấy tin tưởng, vì thế ông phải đầu tư thời gian, công sức sưu tầm tư
liệu, dẫn nhiều luận cứ từ các nguồn khác nhau, thậm chí còn nhiều lần ra nước
ngoài, tìm hiểu tại các văn khố lớn, cuối cùng đã viết được một công trình khảo
cứu nổi tiếng, dựng lại chân tướng lịch sử về con người Hồ Chí Minh. Tấm lòng
của ông thật đáng kính, tình cảm của ông thật đáng trân trọng.
Từ những chứng cứ có được, Hồ
quân đã vượt qua sự cách trở thời gian, sưu tầm vô số tài liệu lịch sử trong và
ngoài nước, các chứng này vừa sâu, vừa rộng với độ tin cậy cao. Sau nữa là
phương pháp trình bày, diễn giải chứng cứ, Hồ quân sử dụng phương pháp so sánh.
Những chỗ còn nghi ngờ hoặc do sự cách trở về không gian, thời gian thì lấy đa
số thắng thiểu số, từ sự chứng, chắp nối sự kiện, đặc biệt là dùng “Nhật
ký trong tù” đối chứng với tục ngữ, thành ngữ dân gian Khách Gia, có sự
cân nhắc, đắn đo. Từ đó, tác giả đã dựng lại chân tướng lịch sử qua sự sàng
lọc, bổ khuyết, không bỏ sót bất cứ việc lớn nhỏ nào liên quan đến cuộc đời
Nguyễn Ái Quốc cũng như Hồ Chí Minh bằng chứng cứ đủ sức thuyết phục và sự phân
tích hợp lý, trình bày khách quan, khoa học.
Hồ quân đã lấy tư cách thân
tộc, vì người chú mà tìm được lời giải câu đố khó. Về tình, ông đã tận lực làm
việc đến nơi đến chốn, về lý, ông luôn giữ được tinh thần khách quan, trung
thực. Điều may mắn cho cuốn sách là lý trí đã vượt lên trên tình cảm. Tôi khâm
phục tư cách của Hồ quân bèn viết bài tự này.

Ngày 10 tháng 8 năm 2008
Văn phòng luật sư pháp luật
Kiệt Chương
        Luật sư
Ông Nhị Đạo
                      Thay lời tựa
     Màn đầu bóc gỡ tấm mạng che huyền bí
       Tấm
mạng huyền bí che mặt Hồ Chí Minh
C
ác nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử hiện đại, ít
nhiều đều có những bí mật riêng giống như tấm mạng che mặt. Những bí mật này
rất ít khi được công khai minh bạch, trong đó, Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của
Việt Nam là một trường hợp điển hình. Cho dù hiện giờ đã là thiên niên kỷ thứ
hai, kỹ thuật truyền thông hiện đại có mặt khắp nơi, Hồ Chí Minh yên nghỉ trong
quan tài thủy tinh tại lăng Ba Đình Hà Nội đã bốn mươi năm, nhưng hoàn cảnh gia
đình, lịch trình học tập, khả năng ngôn ngữ, lý tưởng động cơ cách mạng, thực
trạng hôn nhân, quá trình hoạt động tại Quốc tế cộng sản, thậm chỉ ngày sinh và
ngày mất cũng vẫn còn tồn tại rất nhiều nghi vấn. Mặc cho các tác giả viết
truyện ký tìm mọi cách lắp ghép tư liệu, cuối cùng, vẫn không thể nào dựng lại
được và trình bày một cách thuyết phục chân dung lịch sử Hồ Chí Minh.
Nhà sử học Việt Nam, giáo sư
Nguyễn Thế Anh, tiến sĩ văn học và nhân văn Đại học Sorbonne, Paris, Pháp, từng
là giám đôc Đại học Thuận Hóa, chủ nhiệm khoa Văn Sử Đại học Sài Gòn, giáo sư
thỉnh giảng Đại học Harvard Hoa Kỳ, chủ nhiệm khoa Lịch sử văn hóa Đông Dương,
Đại học Sorbonne, đã dày công nghiên cứu về Hồ Chí Minh và có những kiến giải
độc đáo. Trong tác phẩm “Con đường chính trị của Hồ Chí Minh”, Nguyễn
giáo sư từng nói: “Cho dù không thiếu những tác phẩm viết về Hồ Chí Minh,
cho dù ông đã mất từ lâu, nhưng vẫn còn tồn tại khá nhiều nghi vấn và mâu thuẫn
trong cuộc đời nhân vật chính trị này. Do ông có thói quen che giấu quá khứ và
những hoạt động của mình, cố ý xóa sạch các dấu vết, vì thế, mọi cố gắng tìm
hiểu những chi tiết chân thực trong cuộc đời hoạt động của ông chẳng khác gì
đứng trong đám mây mù vần vụ mà thưởng hoa vậy. Vì thế, ta chỉ có thể suy đoán
mà thôi. Hồ Chí Minh có đến 3 cái tên giả, tự mình kể chuyện về mình đầy tràn
sắc thái thần bí với nhiều sự hàm hồ, vô vàn tình tiết nghi hoặc, chẳng những
không thể phân tích rõ ràng, mà còn bỗng nhiên tự tâng bốc mình với mục đích
tuyên truyền cho sự nghiệp chính trị hoặc là một thánh nhân. Tuy vậy, các nhà
sử học đã trường kỳ nghiên cứu, nỗ lực bóc gỡ dần lớp màn che phủ vốn làm chân
dung Hồ Chí Mịnh bị biến dạng hoặc bị tô vẽ thái quá qua các tác phẩm truyện
ký, chỉ có điều là vẫn chưa tìm ra điểm mấu chốt.
Nhà sử học Hoa Kỳ, giáo sư
William J. Duiker, là một học giả trác việt chuyên nghiên cứu về Hồ Chí Minh.
Thời kỳ chiến tranh Việt Nam, William J. Duiker làm việc ở Đại sứ quán Hoa Kỳ,
trước sau có gần ba mươi năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, đã được một số Quỹ và
Hội học thuật Hoa Kỳ tài trợ. William J. Duiker cũng thông thạo các tiếng Anh,
Pháp, Nga và Việt, đã vào đọc hầu hết các thư viện lớn nhỏ châu Á, châu Âu và
châu Mỹ, trong đó có nhiều lần cùng đi với các quan chức chính quyền Việt Nam
sưu tầm tư liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh, và đã tìm được những tài liệu quý
hiếm.
Vào năm 2000, William J.
Duiker hoàn thành tác phẩm “Truyện Hồ Chí Minh”, xuất bản bằng tiếng
Anh, dày 700 trang, tuy nhiên chính ông cũng phải thừa nhận, không thể nào tìm
được những tài liệu ở cơ quan đầu não, bởi luôn có sự ngăn cản việc tìm ra sự
thật. William J. Duiker nói: “Những tài liệu nằm ở Trung tâm Lưu trữ Hà
Nội đều không cho người Việt Nam và người nước ngoài thâm nhập tìm hiểu, nghiên
cứu. Cũng như vậy, ta không thể tìm những tài liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh
ở Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa. Nhà cầm quyền Trung Quốc và Liên Xô hầu như ít khi
để lộ những thông tin thuộc loại này.
Học giả Anh Quốc Sophie Quinn-
Judge cũng là một chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh, từng được Quỹ Mike và
Viện nghiên cứu Trung ương Đại học London tài trợ. Bà đã đến Việt Nam, các nước
Đông Nam Á và Nga Xô, tìm được những chứng cứ mới nhất trong hồ sơ của Quốc tế
cộng sản và tình báo Pháp làm cơ sở cho công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh.
Năm 2002, Sophie Quinn – Judge đã xuất bản tại London cuốn sách “Những năm
tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”. Trong  lời đầu, tác giả nói rõ, lấy “truyền kỳ
về con người hai mặt” làm tiêu đề, bởi vì, đối với Hồ Chí Minh còn rất
nhiều điều nghi vấn, đặc biệt tiêu đề chương sáu, dùng sự kiện “Chết ở
Hương Cảng, mai táng ở Mạc Tư Khoa”, coi đó là câu đố về chuyện sinh tử
của Hồ Chí Minh, đồng thời đặt dấu hỏi nghi ngờ.
Trong phần giới thiệu tóm tắt
ở trang 6, Sophie Quinn-Judge viết: “Hồ Chí Minh tìm mọi cách để giấu đi
quá khứ của mình. Nhiều năm qua, những thứ mà ông đã cung cấp toàn là loại
“dật sự”, thường là mâu thuẫn nhau, không mấy liên quan đến cuộc đời
thực. Đầu tiên là tập tự truyện xuất bản vào năm 1949 tại Trung Quốc, năm 1950
được xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris, mấy năm sau lại xuất bản tại Việt Nam
với nhan đề “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”. Qua
cuốn sách, người đọc biết rất rõ là, tất cả cái gọi là sự thật ấy đều do Hồ Chí
Minh bịa đặt. (Tác giả nhận xét, “Truyện Hồ Chí Minh”, bút danh Trần
Dân Tiên, bản Trung văn, “Ba Nguyên thư ốc” Thượng Hải xuất bản năm
1949. Năm 1958, cuốn sách đổi tên là “Những mẩu chuyện về đời hoạt động
của Hồ Chủ Tịch”, xuất bản bằng tiếng Việt tại Hà Nội).
Năm 1962, nhà Việt Nam học
Bernard Fall phỏng vấn Hồ Chí Minh, có hỏi đến những chi tiết mập mờ trong cuộc
đời của ông, Hồ Chí Minh trả lời: “Các ông già khi vui vẻ thường tự tạo ra
cho mình một chút thần bí. Tôi cũng bắt chước người xưa làm ra vẻ thần bí một
chút, chắc ngài có thể hiểu được”. Việc này chẳng biết Bernard Fall có
hiểu được hay không, nhưng William J.Duiker trong cuốn sách nổi tiếng
“Truyện Hồ Chí Minh” đã viết: “Không khí thần bí bao bọc xung
quanh Hồ Chí Minh luôn luôn được duy trì, chí ít ra là trong các tác phẩm tự
truyện như thế này”.
Hồ Chí Minh có phải đến từ Đài Loan?
Vì sao cho đến lúc qua đời Hồ
Chí Minh vẫn không tự nói ra những bí mật của mình? Chấp nhận nằm trong quan
tài thủy tinh để lại cho người đời biết bao câu hỏi nghi ngờ? Vì sao các tư
liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh trong hồ sơ lưu trữ tại các nước Pháp, Anh
Quốc (bao gồm cả Hương Cảng), Mỹ… đến nay từng bước đã được giải mật, vậy mà
nhà nước Việt Nam, Trung Quốc và Nga vẫn xếp vào loại tuyệt mật, cất giữ trong
hòm kín? Các chuyên gia, học giả nghiên cứu về Hồ Chí Minh nhận thấy rất rõ,
trong hồ sơ giản lược về cuộc đời ông, trước sau đều phát sinh mâu thuẫn, nhưng
không biết làm cách nào tìm được cách giải thích hợp lý. Hàng loạt những sự
kiện nghi vấn trên dường như tạo hứng thú cho người ta bỏ nhiều thời gian, công
sức tìm tòi tư liệu để viết về thân thế Hồ Chí Minh. Việc này cũng giải thích
vì sao, giới lãnh đạo cao cấp Việt cộng, Trung cộng và Quốc tế cộng sản, phàm
là các sử liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh, đều nhất loạt được che giấu, tô vẽ
hoặc ngụy tạo.
Nhiều năm trước, một người bạn
thương gia Đài Loan đã nói với tôi: “Hồ Chí Minh là người họ Hồ ở Miêu
Lật, Đồng La, ông có biết không?”. Tin đồn về Hồ Chí Minh thuộc Hồ tộc ở
Miêu Lật, Đồng La đã hai lần tôi trực tiếp nghe được. Thông tin này làm tôi vừa
nghi ngờ vừa phấn khởi. Đây phải chăng là dự báo về thân phận Hồ Chí Minh sắp
được giải mật? Có một người họ Hồ, nhân viên Đảng vụ Quốc dân đảng, thuộc dân
tộc Khách Gia Quảng Đông, sinh vào năm Dân Quốc thứ năm mươi, trong dịp về tế
tổ họ Hồ ở Miêu Lật có hỏi thân phụ tôi: “Hồ Chí Minh với ông là như thế
nào mà có tin đồn ông ta cũng là người Miêu Lật?” Một người nữa là thày
thuốc họ Hà kể lại, năm 1945, ông đã theo quân đội Quốc dân đảng  đến Hà Nội có nghe một người Hoa làm nghề
buôn thịt lợn nói rằng, Hồ Chí Minh là người đến từ Miêu Lật, Đồng La, Đài
Loan. Người anh họ của tôi cũng bảo: ” Năm Dân Quốc thứ sáu mươi, anh cùng
ông chú đến Bộ Ngoại giao Đài Bắc hỏi thăm tung tích Hồ Chí Minh (Hồ Tập
Chương) cùng những vấn đề liên quan đến thân phận ông, nhưng không có được câu
trả lời cụ thể. Thời gian gần đây tôi đã hai lần được nghe từ miệng một thương
nhân Đài Loan ở Việt Nam nói rõ, Hồ Chí Minh là người Miêu Lật, Đồng La, nhưng
không thể kiểm chứng được nguồn gốc thông tin, bởi không một lãnh đạo chóp bu
nào của Việt Nam chịu tiết lộ bí mật.
Từ Việt Nam, tin đồn Hồ Chí
Minh là người thuộc họ Hồ sinh quán ở Miêu Lật, Đồng La truyền về Đài Loan,
khiến tâm trạng tôi vốn dĩ trầm lặng bỗng nhiên như cháy bùng lên. Hồ Chí Minh,
Chủ tịch nước Việt Nam là người Đài Loan! Như vậy, lời khẩu truyền được lưu
trong ký ức gia tộc họ Hồ ở Miêu lật, Đồng La thực ra chẳng phải là bí mật của
Ông Trời, vấn đề là, chưa tìm được chứng cứ đủ sức thuyết phục mà thôi. Trước
đây ít năm, gia tộc có phát hành nội bộ cuốn sách “Giải nghĩa ‘Nhật ký
trong tù’ của Hồ Chí Minh”. Qua sơ bộ nghiên cứu tư liệu thì Hồ Chí Minh
đúng là người họ Hồ ở Miêu Lật, Đồng La. Đại thể là, không có lửa làm sao có
khói, chỉ tiếc sức lực có hạn, không tìm được chứng cứ để liên kết các sự kiện.
Mấy năm nay, các loại sách báo, tranh ảnh lưu hành rất tiện lợi. Mạng Internet
phát triển nhanh chưa từng thấy. Các sử liệu liên quan đến Hồ Chí Minh lần lượt
xuất hiện. Tin đồn Hồ Chí Minh là người Đài Loan từng bước được lịch sử xác
nhận qua các phương pháp giám định khoa học. Vì thế, để tìm hiểu xem Hồ Chí
Minh có phải là người Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan hay không, cần phải khẳng
định hai sự kiện sau:
1 – Hồ Chí Minh thời kỳ (1890
– 1932) là Nguyễn Ái Quốc của Việt Nam.
2 – Hồ Chí Minh thời kỳ (1933
– 1969) là Hồ Tập Chương của Đài Loan.
Nói cách khác, truyền kỳ về
Chủ tịch nước Việt nam Hồ Chí Minh, nửa đời trước là lãnh tụ cộng sản Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc, nửa đời sau là nhân sĩ Quốc tế cộng sản Hồ Tập Chương đến từ
Đài Loan. Hai người cùng có quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng đạt
được những thành tựu trong cuộc đời hoạt động.
Nguyễn Ái Quốc là lãnh tụ sáng
lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng là đại biểu Quốc tế cộng sản. Do đảng viên
cộng sản Pháp Joseph Ducroix, bí thư Công hội Thái Bình Dương, Quốc tế cộng sản
bị bắt tại Singapore, sau khi truy vấn, cảnh sát đã bắt được hai phái viên của
Cục Viễn Đông Quốc tế cộng sản là Hilaire Noulens ở Thượng Hải và Nguyễn Ái
Quốc ở Hương Cảng. Không may, vào mùa thu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc trên đường
trốn chạy từ Hương Cảng đến Thượng Hải bị mắc bệnh lao phổi qua đời.
 Mùa hè năm 1929, Hồ Tập Chương từ Đài Loan đến
Thượng Hải, được Cục Viễn Đông phái đến làm việc tại “Liên minh mậu dịch
Thái Bình Dương”. Cũng bởi có liên quan đến vụ án Hilaire Noulens, ông
phải trốn đến Quảng Châu rồi lại chạy sang Quảng Tây, Xiêm La, cuối cùng về Hạ
Môn. Đầu năm 1933, Hồ Tập Chương từ Hạ Môn đến Thượng Hải để đi Mạc Tư Khoa.
Lúc này, chủ quản bộ phận Việt Nam Quốc tế cộng sản là Vera Vasilieva đặt kế
hoạch cho Hồ Tập Chương 5 năm học tập cải tạo để biến thành Nguyễn Ái Quốc,
nhằm phủ định sự thật Nguyễn Ái Quốc đã chết, thay thế ông này, bước lên vũ đài
lịch sử, diễn vở kịch truyền kỳ Hồ Chí Minh “thật giả kiếp người”.                                                                       
Hồ Chí Minh nửa đời về sau
(1933 – 1969) là Hồ Tập Chương, người Đài Loan. Tuy nhiên, sự kiện động trời
này chưa từng được lịch sử biết đến, khiến các cho các chuyên gia nghiên cứu
hoặc độc giả có hứng thú với nhân vật Hồ Chí Minh vừa sững sờ vừa nghi vấn. Các
chứng cứ của luận điểm này? Độ tin cậy của thông tin như thế nào? Nguồn gốc của
tư liệu ở đâu? Mối quan hệ nhân quả về thời gian, không gian và tính logic của
vấn đề?
Về trình tự làm cuốn sách,
trước hết là trình bày việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt
Nam và chết bởi bệnh lao phổi vào mùa thu năm 1932. Phần tiếp theo sẽ chỉ ra,
Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người, cuối cùng nói đến nửa
phần đời sau của Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương đến Từ Đài Loan. Nội dung
cuốn sách này hoàn toàn đảm bảo tính khách quan và tính hợp lý với mục đích chỉ
để làm rõ một tiên đề giả thiết Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một
người. Trong quá trình khảo cứu, tôi đã tìm hiểu, so sánh, đối chiếu cẩn trọng
các tư liệu liên quan đến cuộc đời Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, muốn làm một
việc công bằng là trả lại sự thực vốn có cho lịch sử, đồng thời để tìm ra lời
giải câu đố “Sự bí ẩn trong chuyện sinh tử của Nguyễn Ái Quốc”. Từ sự
bí ẩn về thân phận Hồ Chí Minh, tôi đề xuất 5 luận chứng đồng thời cũng là nhan
đề của 5 thiên trong “Tìm hiểu cuộc đời Hồ Chí Minh” như sau:
1 – “Hài kịch tráo rồng
đổi phượng” (Nguyễn Ái Quốc chết mà sống lại).
2- “Ve sầu thoát xác,
thật giả kiếp người” (Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng lên vũ đài lịch
sử).
3 -“Cuộc sống lưu vong
phiêu bạt” (Hồ Chí Minh ở Liên Xô và Trung Quốc).
4- “Khúc bi ca về tình
yêu và hôn nhân” (Sự thật về tình yêu, hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Hồ
Chí Minh).
5 – “Nhật ký trong tù và
Di chúc” (Làm rõ khả năng Hán văn của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh).
Từ cách nhìn lịch sử ở những
góc độ khác nhau, lật lại sự kiện Nguyễn Ái Quốc chết bệnh vào năm 1932, và Hồ
Chí Minh của năm 1933 là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan tiếp tục tiếp tục đăng
đài thực hiện nhiệm vụ Quốc tế cộng sản giao phó, rất mong được các chuyen gia
học giả cùng bạn đọc chỉ giáo.  


Hồ Tuấn Hùng
                          THIÊN I
     Hài kịch tráo rồng đổi phượng
                              Màn
một
      Sự thật về cái chết của
Nguyễn Ái Quốc
         Những
ẩn số về con người Hồ Chí Minh
T
rong tiểu sử Hồ Chí Minh, một câu hỏi luôn được đặt
ra, ông là Nguyễn Ái Quốc, người Việt Nam hay là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan?
Đây là vấn đề vô cùng quan trọng. Phải chăng Nguyễn Ái Quốc đã chết vào năm
1932? Người tiếp tục đóng vai ông liệu có phải là Hồ Tập Chương? Các tác giả
viết truyện ký về Hồ Chí Minh vào thời điểm 1932 đều khá mơ hồ, thậm chí còn tỏ
ra không ít nghi ngờ. Vì vậy không có cách nào chứng thực được cái chết của
Nguyễn Ái Quốc, nơi mai táng di thể cũng như thân phận của Hồ Tập Chương tiếp
tục vai trò của ông. Vì thế, các học giả nghiên cứu về Hồ Chí Minh, cho đến
nay, chỉ sử dụng những tư liệu chính thống do nhà nước Việt Nam biên soạn như
“Truyện Hồ Chí Minh” hoặc “Hồ Chí minh và vấn đề văn hóa”
v.v…nhằm ngoa truyền Hồ Chí Minh chính là Nguyễn Ái Quốc. Nhân đó khẳng định
thân phận chân chính Hồ Chí Minh cùng những chi tiết thật giả lẫn lộn không thể
phân biệt, đề lại cho hậu thế một nhân vật nhuốm màu thần bí.
Nghiên cứu kỹ những ghi chép
về hoạt động của Hồ Chí Minh từ năm 1933 đến năm 1945, ta sẽ thấy một số không
nhỏ những điều vô lý được sử dụng qua hàng loạt chứng cứ ngụy tạo. Có thể dẫn
chứng, người mà năm 1933 từ Hạ Môn đến Thượng Hải để đi Mạc Tư Khoa tuyệt đối
không phải Nguyễn Ái Quốc mà là một người khác. Tình yêu và hôn nhân của Nguyễn
Ái Quốc và Hồ Chí Minh cũng hoàn toàn khác nhau. “Nhật ký trong tù”
không phải do Nguyễn Ái Quốc sáng tác. Tất cả đều là những vấn đề lớn còn tồn
tại nhiều mâu thuẫn. Vì thế phải làm rõ một điều, Hồ Chí Minh là Hồ Chí Minh,
Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Ái Quốc, hai người này không thể là một. Từ đó mới có
thể xác định Nguyễn Ái Quốc đã chết vào năm 1932. Chết mà sống lại khiến người
ta nghĩ đến trò chơi “mượn xác hoàn hồn”, “dời hoa tiếp
cây”.
Nguyễn Ái Quốc chết thật hay chết giả?
Nguyễn Ái Quốc nhiều năm đã
mắc chứng lao phổi, tháng 6 năm 1931 bị cảnh sát Hương Cảng bắt, được chuyển
đến bệnh xá nhà giam điều trị, đầu năm 1932 mất tích, đến khoảng giữa tháng 7
và tháng 8 thì các báo đưa tin chết vì bệnh lao phổi. Cũng thời gian này các
báo Hương Cảng, Anh Quốc, Pháp Quốc và Nga Xô đều viết, sau khi Nguyễn Ái Quốc
từ Singapore trở lại Hương Cảng, không rõ lý do mất tích, sau đó bị bệnh qua
đời.  Thời gian này, nhóm lưu học sinh
Việt Nam tại trường Đại học Phương Đông, Mạc Tư Khoa đã cử hành lễ truy điệu.
Phái viên Quốc tế cộng sản đến thăm hỏi chia buồn. Hồ sơ Nguyễn Ái Quốc của
cảnh sát Pháp năm 1933 cũng ghi chú Nguyễn Ái Quốc đã chết. Thế nhưng, mãi đến
mười năm sau, một nhân viên tình báo Pháp lại gửi báo cáo về Paris khẳng định
Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động ở vùng biên giới Việt – Trung. Chính phủ Pháp gửi
điện trả lời: “Vô lý, chắc anh bị bệnh tâm thần nên mới chuyển về nước tin
tức vớ vẩn này. Nguyễn Ái Quốc đã chết ở Hương Cảng vào đầu những năm
1930”. Những tài liệu gốc nằm trong hồ sơ Nguyễn Ái Quốc được nhắc đến
từng đăng tải trên báo chí đều là những tư liệu lịch sử từ năm 1932 đến năm
1941 đáng tin cậy. Trong khoảng mười năm, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn biệt vô âm
tín, không có bất cứ ghi chép nào về hoạt động của ông, nhưng lại có một người
khác, xưng danh là Nguyễn Ái Quốc, tiếp tục sự nghiệp của ông., Đó là Hồ Tập
Chương. Thế thân Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tập Chương phủ nhận cái chết vì bệnh phổi
với lý do, vì có nhiệm vụ quan trọng phải rời Hương Cảng nên đã tung tin cái
chết giả với báo chí. Quốc tế cộng sản và các yếu nhân Trung cộng đều ra sức
che dấu những hoạt động của Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) từ năm 1929 đến năm
1933, mặt khác lại không ngừng dùng báo chí tuyên truyền khẳng định Hồ Chí Minh
chính là Nguyễn Ái Quốc vẫn hoạt động trên vũ đài chính trị. Ví như năm 1933,
người ta đã tạo ra một hình ảnh Nguyễn Ái Quốc giả gặp người bạn Pháp là
Vaillant Couturier tại Thượng Hải rồi tung lên các báo với ý đồ, làm cho người
đời tin rằng, từ năm 1933, Nguyễn Ái Quốc vẫn hoạt động tại Thượng Hải, để đạt
được mục đích “dời hoa tiếp cây”. Gần mười năm sau khi Nguyễn Ái Quốc
chết, ngày 6 tháng sáu năm 1941, lần đầu tiên Hồ Chí Minh công khai danh tính
Nguyễn Ái Quốc trong bài “Thư gửi đồng bào toàn quốc” kêu gọi nhân
dân Việt Nam đứng lên làm cách mạng, giành độc lập dân tộc và xây dựng đất
nước.
Theo những mẩu chuyện tự kể về
cuộc đời Hồ Chí Minh, những năm tháng sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, rồi được làm
cho sống lại từ màn kịch “dời hoa tiếp cây”, nói rằng: ” Mùa
xuân năm 1932, Nguyễn Ái Quốc bí mật đến Hạ Môn chữa bệnh nửa năm, đầu năm
1933, từ Hạ Môn đến Thượng Hải, sau đó từ Thượng Hải đi Mạc Tư Khoa”. Đó
chính là trò chơi “ve sầu thoát xác” tạo nên một Hồ Chí Minh từ xác
chết Nguyễn Ái Quốc được phù phép cho sống lại.
Sự thật về cái chết của Nguyễn
Ái Quốc rất rõ ràng, nhưng lịch sử bị bóp méo, ngụy tạo ra cách giải thích, ông
phải chạy trốn sang Pháp do bị đặc vụ săn đuổi. Tất cả những việc làm trên đều
thực hiện bởi bàn tay Quốc tế cộng sản cùng giới lãnh đạo chóp bu Trung cộng,
Việt cộng, chỉ nhằm một mục đích, bắt buộc người ta phải thừa nhận Hồ Chí Minh
chính là Nguyễn Ái Quốc.

 

 

Báo chí đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết bởi bệnh lao phổi
Sophi Quinn Judge trong tác
phẩm “Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919 – 1941”, đặc
biệt tại chương 6, đã trực tiếp lấy việc Hồ Chí Minh “chết ở Hương Cảng,
mai táng ở Mạc Tư Khoa” làm tiêu đề, đã nhận thấy có cái gì đó mù mờ trong
chuyện sinh tử này. Sự nghi ngời của Quinn Judge phải chăng căn cứ từ các bài
báo đương thời nhưng không có những tư liệu đáng tin cậy làm cơ sở pháp lý. Tuy
nhiên, trong năm ấy, báo chí cộng sản lại lần lượt đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết
do bị lao phổi. Ví như tờ “Sự thật” của đảng Cộng sản Liên Xô, tờ
“Nhân đạo” của đảng Cộng sản Pháp, tờ “Lao động” của đảng
Cộng sản Anh, đặc biệt, nhóm lưu học sinh Việt Nam tại Đại học Phương Đông, Mạc
Tư Khoa đã cử hành lễ truy điệu Nguyễn Ái Quốc, Quốc tế cộng sản cũng phái đại
biểu đến chia buồn.
1 – Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”, giáo sư sử học
Đài Loan Tưởng Vĩnh Kính, trang 74 – 75, đã viết:
Đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc
sang Singapore nhưng bị cảnh sát bắt quay lại Hương Cảng, sau đó thì mất tích,
nhưng phía Anh Quốc cũng không công bố việc này. Sau khi Nguyễn Ái Quốc mất
tích, các báo đều đưa tin ông bị ho lao nặng và qua đời trong nhà giam. Những
báo này bao gồm cả của nhà đương cục Pháp – Việt thực dân cho đến của các đảng
Cộng sản như tờ “Lao động” của đảng Cộng sản Anh, tờ “Nhân
đạo” của  đảng Cộng sản Pháp, đến
các báo của Nga Xô đều đăng tải tin Nguyễn Ái Quốc bị bệnh lao phổi chết. Nhóm
lưu học sinh Việt Nam tại Đại học Phương Đông, Mạc Tư Khoa cử hành tang lễ,
phái viên Quốc tế cộng sản đễn viếng và chia buồn. Hồ sơ của cảnh sát Pháp năm
1933 đã ghi chép về sự kiện này và chú thích “Nguyễn Ái Quốc đã chết tại
Hương Cảng”. (Tác giả nhận định: Báo chí Nga Xô cụ thể là tờ “Sự
thật” (Pravda), xem cuốn “Chủ tịch nước Việt Nam”, Lý Gia Trung
biên dịch, trang 224)
Những ghi chép của Tưởng giáo
sư cùng các bài báo có liên quan đến cái chết của Nguyễn Ái Quốc dẫn từ
“Bác Hồ” của Hoài Thanh, Thanh Tịnh, NXB Ngoại văn, 1962 và
“Hoang Van Chi, From Colonialism to Communism” Ferederick A.Praeger,
inc,1965
二書.(Hoàng Văn Chi, “Từ
chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa cộng sản”
Ferederick A.Praeger, inc,1965, 2 quyển).
2 – Trong cuốn “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 209 và 212, William
J. Duiker viết:
Vào ngày 11 tháng 8 năm 1932,
tờ nhật báo “Công nhân” của Quốc tế cộng sản phát hành tại London,
đăng tin Nguyễn Ái Quốc chết trong nhà giam. Nhóm lưu học sinh Việt Nam tại
trường Đại học Stalin sớm đã biết tin Nguyễn Ái Quốc qua đời vì bệnh lao phổi
nặng và tổ chức lễ truy điệu, cũng như trước đó, vào năm 1931, họ đã tổ chức lễ
truy điệu Tổng bí thư Trần Phú chết ở nhà tù thực dân Pháp tại Việt Nam.
Những ghi chép của William J.
Duiker thật ra không rõ ràng vì không dẫn được tư liệu gốc có tính thuyết phục.
Những nghiên cứu của giáo sư Tưởng Vĩnh Kính, về đại thể là giống nhau, chỉ khác
về tiểu sự nếu đem so sánh với các tư liệu viết về Hồ Chí Minh trong tác phẩm
“Bác Hồ” của Hoài Thanh và Thanh Tịnh do NXB Ngoại văn ấn hành năm
1962.
3 – Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng mất tích của Hồ Chí
Minh, 1919- 1941”, trang 194 đã viết:
Tháng 9 năm 1930, Nguyễn Ái
Quốc thừa nhận mình bị lao phổi. Trong một bức thư gửi Bộ Ngoại giao năm 1932,
Tổng Lãnh sự Pháp tại Hương cảng Soulange Teissier cũng chứng thực Nguyễn Ái
Quốc bị nhiễm lao mạn tính. Mùa hè năm 1932, lần đầu tiên một tờ báo viết:
“Người (Nguyễn Ái Quốc) bị bệnh lao, thân thể suy nhược này chính là một
lãnh đạo quan trọng của Việt Nam”. Các báo Cộng sản tháng 8 năm 1932 đều
đồng loạt đưa tin Nguyễn Ái Quốc qua đời bởi bệnh phế kết hạch (bệnh lao phổi).
 Bí mật về cái chết của Nguyễn Ái Quốc
Tin Nguyễn Ái Quốc bị bệnh qua
đời vì sao chỉ có các báo Cộng sản đăng tải? Vì sao lưu học sinh Việt Nam tại
Mạc Tư Khoa tổ chức tang lễ? Lại vì sao đến mười năm sau Hồ Chí Minh mới giải
thích việc mình chết rồi sống lại chính là một màn kịch để trốn khỏi Hương
Cảng?
Đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc
mất tích từ Hương Cảng, bí mật đến Thượng Hải để đi Mạc Tư Khoa. Kế hoạch này
này là do Quôc tế cộng sản đạo diễn, vì thế chỉ có báo chí Cộng sản đưa tin. Có
thể thấy, thời gian sau khi Nguyễn Ái Quốc chết, Quốc tế cộng sản vẫn chưa có ý
định “cấy” Hồ Chí Minh thay thế ông ta, cho nên báo chí Cộng sản mới
đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao phổi và lưu học sinh Việt Nam tại Mạc
Tư Khoa mới tổ chức lễ truy điệu.
Về cái chết của Nguyễn Ái
Quốc, sau khi các báo đưa tin, tất cả đều im lặng, tuyệt nhiên không thấy Quốc
tế cộng sản có bất cứ động thái gì. Trong khi ấy, liên lạc viên Cục Viễn Đông
của Quốc tế cộng sản là Hồ Tập Chương, từ Thượng Hải đã đến Mạc Tư Khoa vào năm
1933. Hồ Tập Chương đã nhiều lần cùng làm việc với Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt đã
tham gia Ban Trù bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, lúc này, Quốc tế
cộng sản yêu cầu Hồ Tập Chương thay thế thân phận Nguyễn Ái Quốc, tiếp tục tham
gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Tập
Chương (bí danh P.C.Lin), qua 5 năm, được sự giáo dục, cải tạo của Quốc tế cộng
sản, lại đổi tên là Hồ Quang, Hồ Chí Minh hoạt động tại vùng biên giớ Việt
Trung. Cố nhiên, đây mới là chỉ dấu ban đầu nghi ngờ về cái chết của Nguyễn Ái
Quốc và thân phận thực của Hồ Chí Minh sau khi đã đồng nhất với Nguyễn Ái Quốc.
Phải chăng, Nguyễn Ái Quốc đã
chết vào mùa thu năm 1932 bởi bệnh lao phổi? Căn cứ vào hoàn cảnh lúc ấy mà suy
đoán thì hầu như có thể khẳng định đó là sự thật. Theo hồi ức Lưu Đức Phương,
một đảng viên Cộng sản Việt Nam, thì từ năm 1925 đến năm 1927, Nguyễn Ái Quốc
nỗ lực hoạt động vượt bậc. Chín trăm ngày đêm, công việc chồng chất như núi,
ông phải làm việc thâu đêm, thân thể suy nhược, và nhất là ho rất nhiều, có lúc
khạc ra máu. Từ tháng bảy đến tháng chín năm 1930, Nguyễn Ái Quốc viết 6 bức
thư gửi Cục Viễn Đông, trình bày về việc mình bị bệnh lao phổi nặng, thường ho
ra máu, thân thể suy nhược. Cuối tháng mười một năm 1931, Nguyễ Ái Quốc viết
thư gửi đồng chí Lam Đức Thư của “Liên minh thanh niên cách mạng”:
“Tình trạng sức khỏe của tôi hiện rất nguy kịch, bệnh cũ tái phát, thường
xuyên ho ra máu, rất đáng lo ngại, sợ rằng có thể chết trong ngục bất cứ lúc
nào”. Năm 1932, tình báo viên Anh Quốc là Paul Draken, dùng thủy phi cơ
đưa Nguyên Ái Quốc rời Hương Cảng đã nhìn thấy “Nguyễn Ái Quốc quá mệt
mỏi, ho liên tục, gần như không còn sức để nói”.*
Như trên đã trình bày, Từ khi
rời Hương Cảng trốn đến Thượng Hải, tình trạng bệnh tật Nguyễn Ái Quốc đã khá
trầm trọng, lại trải qua chặng đường dài vô cùng vất vả, vì thủy phi cơ rất xóc
càng làm tổn hại sức khỏe. Huống nữa, sau khi lên bờ, đặc vụ Quốc dân đảng,
cảnh sát tô giới Anh, với cặp mắt nhà nghế, luôn theo dõi nhất cử nhất động của
những người cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đâu dám công khai tìm thầy thuốc chữa bệnh
mà chỉ cố chịu đựng để nhanh chóng đến được Mạc Tư Khoa. Cho nên ông bị chết ở
Mạc Tư Khoa là hoàn toàn có thể xảy ra. Chính vì vậy, báo chí Cộng sản từ tờ
“Sự thật” của Nga Xô đưa tin đầu tiên, sau đó đến tờ “Nhân
đạo” của Đảng Cộng sản Pháp, tờ “Lao động” của Đảng Cộng sản Anh
lần lượt đăng tải tin Nguyễn Ái Quốc chết vào tháng 7 và tháng 8 năm 1932. Cùng
thời gian này, nhóm lưu học sinh Việt Nam tại Đại học Phương Đông đã tổ chức
tang lễ cho Nguyễn Ái Quốc. Từ đó suy ra, Nguyễn Ái Quốc đã qua đời trên đường
đến Mạc Tư Khoa, chôn cất tại Mạc Tư Khoa là sự thật, tuyệt đối không phải như
Hồ Chí Minh tự thuật sau này nói về cái chết giả để tránh bị cảnh sát truy
đuổi.
Chú thích:
* Dẫn từ:  Paul Draken “Nhật ký Paul Draken- Ghi
chép về Nguyễn Ái Quốc”. “Nhật ký Paul Draken” chính là cuốn hồi
ký mà nội dung trong đó có nhật ký của thân phụ ông là nam tước Draken chưa kịp
xuất bản. Nhật ký thuật lại chuyến đi mạo hiểm của nam tước Draken từ năm 1900.
Đầu năm 2000, “Nhật ký Paul Draken có kèm theo tranh ảnh được chuyển cho
ngài Diêu Khai Dương thuộc Viện Bảo tàng Trung Quốc toàn quyền xử lý. Sau này
Diêu Khai Dương viết thư xin ý kiến Paul Draken trao bản quyền cho tập đoàn YAO
xuất bản và phát hành. “Nhật ký Paul Draken” có thiên thứ ba
“Trân châu Trung Quốc” (1929-1932), chương 12, lấy tên Nguyễn Ái Quốc
làm nhan đề chia ra hai phần “thượng”, “hạ” ước khoảng ba
nghìn chữ, kể lại việc ông tham gia vào kế hoạch giải cứu Nguyễn Ái Quốc.
“Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc” kể lại quá trình xây dựng kế hoạch và
thực hiện giải cứu Nguyễn Ái Quốc là tác phẩm vô cùng quý giá, rất đáng đọc và
suy ngẫm.
Sai
lầm của Hồ Chí Minh về việc tự nhận “mình đã bị chết”
Liệu rằng Hồ Chí
Minh có sự lật lọng khi nói đi nói lại nhiều lần “mình đã bị chết”?
Lúc thì ông bảo, đây chỉ là tin giả do nhà đương cục Pháp công bố, lúc thì lại
nói, luật sư Frank Loseby cố ý tung tin Nguyễn Ái Quốc chết, tạo điều kiện thuận
lợi để ông trốn khỏi Hương Cảng. Lại nữa, trong các bản tiếng Việt như
“Truyện Hồ Chí Minh” hay “Hồ Chí Minh biên niên tùng thư”,
trước sau đã nhiều lần nhắc đến việc này, khiến người ta rất khó tin là, Hồ Chí
Minh “tự tuyên bố cái chết của mình với báo chí, mục đích giữ an toàn khi
rời khỏi Hương Cảng”. Đặc biệt, Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: ” Việc
công bố cái chết của Nguyễn Ái Quốc là do nhà đương cục Pháp cố ý bịa đặt nhằm
mục dịch làm nhụt ý chí đấu tranh của nhân dân Việt Nam”. Cách giải thích
như thế xem ra không đủ sức thuyết phục. Tin Nguyễn Ái Quốc chết bởi bệnh lao
phổi, lần đầu tiên được báo chí đăng vào mùa thu năm 1932. Trong khi đó, Hồ Chí
Minh lại tuyên bố mình trốn khỏi Hương Cảng đến Hạ Môn vào tháng giêng năm
1933. Khoảng thời gian sai số cách nhau gần nửa năm rất không phù hợp với thực
tế. Công bằng mà nói, nếu đã tung màn khói cái chết giả để tiện lợi cho sự trốn
chạy, tất yếu phải tạo ra một thời gian tương ứng phù hợp. Thế nhưng, ở đây lại
có sự tiền hậu bất nhất những nửa năm, làm người đọc hoàn toàn có quyền nghi ngờ.
Hơn thế nừa, mãi sau nửa năm mới nói mình sống lại, chỉ với mục đích duy nhất
là muốn làm sáng tỏ lời tuyên bố về “cái chết” từ mười năm trước.
Một mặt nói là
mình không chết, mặt khác lại nói mình chết để cho các đồng chí phải vất vả lo
liệu tang lễ sau khi vừa tổ chức lễ truy điệu Tổng Bí thư Trần Phú. Câu chuyện
hoang đường đầy chất hoạt kê này rất bất hợp lý chẳng khác gì kiều “gậy
ông lại đập lưng ông”, chẳng qua đó chỉ là màn kịch nhằm mục đích “mượn
xác hoàn hồn’, “dời hoa tiếp cây” được dàn dựng kỹ lưỡng mà thôi.
Hồ
sơ bệnh án Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh
Đoàn
Chủ tịch Trung ương Việt Nam đặc biệt thông báo: “Chủ tịch Hồ Chí Minh bị bệnh tim nặng đã từ trần hồi 9 giờ 47 phút năm
1969
“. Đây là một sự dối trá. Nguyễn Ái Quốc chết vào tháng 8 năm 1932
do bệnh lao phổi, trong khi ấy, Hồ Chí Minh, sau 37 năm, chưa từng thấy có ghi
chép về việc chữa trị bệnh lao phổi trong hồ sơ, mà lại chết bởi bệnh tim. Hãy
cứ lấy năm 1933 làm điểm mốc trước sau để so sánh, quan sát, sẽ dễ dàng phát hiện
ra tình trạng bệnh lý rất khác nhau trong cùng một con người. Đây là vấn đề rất
quan trọng, xin cung cấp để bạn đọc tham khảo.
Hồ sơ bệnh lao phổi Nguyễn Ái Quốc
1
– Tháng giêng năm 1920, một đặc vụ Pháp là Eduard mang bí danh Phúc Bắc (Phu
bay) báo cáo: “Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh là những người mắc chứng viêm
phế quản hoặc bệnh lao phổi. Họ không có điều kiện giữ gìn sức khỏe, nên nói
chung sinh hoạt khó khăn. (“Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh,
1919-1941”- Sophie Quinn-Judge, trang 28).
2
– Tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc thay (…) viết bài, tháng tám phải nhập viện
đã gây trở ngại cho kế hoạch hoạt động. Lúc ấy, vai phải Nguyễn Ái Quốc lở loét
mưng mủ phải điều trị. Phải chăng đây là dấu hiệu của căn bệnh lao? (“Những
năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”- Sophie Quinn-Judge, trang
30).
3
– Đầu năm 1921, sau Hội nghị Tours, Nguyễn Ái Quốc từng nói, ông chẳng cần quan
tâm đến sự thành bại của cách mạng thế giới mà việc cấp bách trước mắt là vận mệnh
dân tộc. Hai tháng sau đó, Nguyễn Ái Quốc bị nghi là mắc bệnh viêm phế quản, phải
vào bệnh viện điều trị sau một trận ốm. (“Truyện Hồ Chí Minh”-
William J. Duiker, trang 173).
4
– Trước sau tháng chín năm 1924, Nguyễn Ái Quốc được Quốc tế cộng sản tạm thời
giao nhiệm vụ soạn thảo một bài về tình hình Đông Nam Á để đăng trong chuyên
san “Tin tức châu Á”. Lúc ấy chưa xác định được Nguyễn Ái Quốc mắc bệnh
gì, Quốc tế cộng sản đưa ông đến Crime bên bờ Hắc Hải nghỉ điều dưỡng khôi phục
sức khỏe. (“Truyện Hồ Chí Minh”- William J. Duiker, trang 147).
5
– Ngày 25 tháng chín năm 1924, Nguyễn Ái Quốc gửi một bức thư cho Voitinsky,
trong đó có nói đến việc sẽ đi Trung Quốc để tăng cường sức khỏe. Ngày 5 tháng
chín, ông đến viện điều dưỡng điều trị một thời gian dài chứng bệnh lao phổi.
(“Truyện Hồ Chí Minh”- William J. Duiker, trang 598).
6
– Từ năm 1925 đến năm 1927, gần chín trăm ngày đêm, công việc của Hồ Chí Minh
chất đầy như núi. Ông phải làm việc kiệt lực mới giải quyết xong “tòa
núi” ấy. Hồi ức Lý Đức Phương viết: “Lúc ấy Bác Hồ thường dậy từ canh
năm làm việc đến canh hai mới nghỉ, thân thể suy nhược, ho nhiều, có lúc khạc
ra máu”. Sau khi thoát hiểm đến Mạc Tư Khoa, ông không thể không đến bệnh
viện chữa trị. (“Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh”- Lý Gia Trung, cựu
Đại sứ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, trang 123).
7
– Cuối năm 1927, tôi nhận được chỉ thị của Chi bộ Đảng Cộng sản Đông Dương thuộc
Quốc tế cộng sản, nhưng lúc ấy đang lâm bệnh ở Thailand hơn một năm, vì thế,
không thực hiện được bất cứ nhiệm vụ nào. (“Những năm tháng mất tích của Hồ
Chí Minh, 1919-1941”- Sophie Quinn- Judge, trang 163).
8
– Nửa sau năm 1928, hồi ký Đặng Văn Chi viết: “Có một thời gian Nguyễn Ái
Quốc đã nghiên cứu Đông y, hy vọng có thể tìm ra phương pháp chữa bệnh lao phổi,
vì vậy, sau này có báo cáo với một đồng chí Việt Nam ở Hương Cảng, trình bày lý
do ông ở Thailand hơn một năm mà không làm được việc gì”. (“Những năm
tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”- Sophie Quinn-Judge, trang 129,
163).
9
– Năm 1929, căn cứ vào lời kể của Lam Đức Thư, có tin nói rằng, Nguyễn Ái Quốc ở
nước Đức, sức khỏe không tốt. (“Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh,
1919-1941”- Sophie Quinn-Judge, trang 143).
10
– Trong khoảng thời gian từ ngày 3 tháng bảy đến ngày 2 tháng chín năm 1930,
Nguyễn Ái Quốc viết 6 bức thư gửi Cục Viến Đông. Trong thư đề ngày 2 tháng
chín, ông thú nhận từ ngày 13 tháng tám, sức khỏe đã suy sụp vì bệnh lao phổi,
chứng cớ là thở rất khó khăn, thỉnh thoảng lại thổ huyết, cơ thể vô cùng mệt mỏi.
(“Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”- Sophie
Quinn-Judge, trang 177).
11-
Tháng chín năm 1930, Nguyễn Ái Quốc chính thức công bố mình bị lao phổi nặng. Tổng
Lãnh sự Pháp Soulange Teissier, trong một bức thư viết vào năm 1932 gửi Bộ Ngoại
giao cũng xác nhận, Nguyễn Ái Quốc mắc chứng lao phổi mạn tính rất nặng.
(“Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”- Sophie
Quinn-Judge, trang 194).
12
– Trước sau trung tuần tháng sáu năm 1931, phu nhân luật sư Frank Loseby tiếp tục
vào thăm Nguyễn Ái Quốc, nhìn thấy thân thể nhà cách mạng tiều tụy, đã nói với
chồng, trước mắt đề nghị nhà đương cục đưa ông vào bệnh viện điều trị.
(“Chủ tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh “- Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng
hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, trang 200).
13
– Cuối tháng mười một năm 1931, Nguyễn Ái Quốc viết thư gửi cho Ủy viên Liên
minh thanh niên cách mạng Lam Đức Thư: “Hiện tại sức khỏe của tôi rất nguy
kịch, hơn nữa bệnh thổ huyết lại tái phát, tình hình này, rất có khả năng chết ở
trong ngục. Chỉ trách ông trời không cho tôi sống để tiếp tục thực hiện lý tưởng
cách mạng”. (“Truyện Hồ Chí Minh”, William J. Duiker, trang
206).
14
– Cuối năm 1931, Nguyễn Ái Quốc được đưa tới bệnh viện điều trị dưới sự canh
gác nghiêm ngặt của cảnh sát. Cuối tháng mười hai, hoàng thân Cường Để gửi một
bức thư tỏ thái độ trân trọng và lo lắng về tình trạng bệnh tật của Nguyễn Ái
Quốc. Ông cũng gửi kèm theo 300 đồng để Nguyễn Ái Quốc mua thuốc chữa trị, đồng
thời đề nghị phải giữ gìn sức khỏe để phụng sự đất nước. (“Những năm tháng
mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”- Sophie Quinn-Judge, trang 194).
15
– Đầu năm 1932, Khu mật viện Hoàng gia Anh Quốc mở phiên tòa xử vụ Tống Văn Sơ
tức Nguyễn Ái Quốc. Kết thúc phiên xử, Tòa tuyên án phóng thích Nguyễn Ái Quốc.
Tin vui đến Hương Cảng. Lúc ấy Tống Văn Sơ vẫn còn đang điều trị tại bệnh viện.
Sau chín lần ra tòa (1/8/1931- 19/9/1931), sức khỏe Tống Văn Sơ đã quá suy nhược.(“Chủ
tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh “, Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa nhân
dân Trung Hoa tại Việt Nam, trang 217).
16-
Năm 1932, đại diện Bộ Ngoại giao Anh Quốc là Paul Draken đến Hương Cảng gặp
Nguyễn Ái Quốc. Paul Draken nói: “Tôi được cử đến đây giúp ngài xuất cảnh,
xin hỏi, ngài muốn đến nơi nào?”. Nguyễn Ái Quốc bảo: “Tôi muốn đến
Liên Xô”. “Tốt nhất là ngài nên qua đường Thượng Hải” – Paul gợi
ý- Tôi sẽ tháp tùng ngài đi Thượng Hải, sau đó, ngài sẽ quyết định nên đến nơi
nào”. (“Nhật ký Paul Draken – ghi chép về Nguyễn Ái Quốc”).
17
– Năm 1932, Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc) mất tích tại Hương Cảng, các báo đều
đưa tin sau khi Hồ Chí Minh bị cảnh sát Hương Cảng bắt đã chết trong tù vì bệnh
lao phổi. Các báo này bao gồm cả của chính quyền Pháp lẫn các Đảng Cộng sản,
như tờ “Lao động” của Đảng Cộng sản Anh, tờ “Nhân đạo” của
Đảng Cộng sản Pháp cùng các báo chí Liên Xô. (“Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”-
Tưởng Vĩnh Kính, trang 74- 75).
18
– Trước đó, nhóm lưu học sinh Việt Nam tại học viện Stalin đã biết Nguyễn Ái Quốc
chết bởi bệnh lao phổi và đã lo tổ chức tang lễ, như trước đó đã tổ chức tang lễ
Tổng Bí thư Trần Phú chết trong nhà tù thực dân Pháp tại Việt Nam.  (“Truyện Hồ Chí Minh”- William J.
Duiker, trang 212).
19
– Năm 1933, thời kỳ Hồ đến Mạc Tư Khoa, tình trạng sức khỏe đã rất kém, lại bị
lao phổi, thân thể gầy yếu, hai má hóp xám bệch, chốc chốc lại ho, đờm dính
máu. Trước đây không có điều kiện chữa trị bằng các loại thuốc đặc hiệu, Hồ
nghĩ ra cách điều trị riêng của mình: Sinh hoạt theo kỷ luật khắt khe, tuyệt đối
tuân thủ các chế độ đã đặt ra. Mỗi sáng sau khi thức dậy, ông thường xuyên tập
thể dục. Trong phòng luôn có quả tạ, dụng cụ luyện tập làm nở lồng ngực.
(“Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”- Tưởng Vĩnh Kính, trang 182).
20
– Cuối năm 1944, thiếu úy Shaw đề nghị Hồ Chí Minh cùng đến Côn Minh. Hồ Chí
Minh và hai đồng chí thanh niên đi trước, trên đường qua Di Lương bị cảm mạo do
nhiễm lạnh  phải nghỉ lại vài ngày. Sau
khi Hồ Chí Minh phục hồi sức khỏe, mọi người lại tiếp tục lên đường.
(“Truyện Hồ Chí Minh”- William J. Duiker, trang 287).
21
– Cuối tháng ba năm 1945, sau chuyến công tác tại địa khu Đông Khê, chúng tôi
chuyển đến Xuân Sơn tổ chức mấy cuộc phát động quần chúng, chính là lúc gặp Hồ
Chủ Tịch từ Bắc Pha đi xuống. Tôi đi cùng Chủ Tịch một đoạn. Trên đường Hồ Chí
Minh lại lên cơ sốt rét (hoặc nhiễm ngược tật, chợt nóng chợt lạnh. Khi nóng,
nhiệt độ tăng cao, toàn thân hầm hập. Khi lạnh, hàm răng run cầm cập, gọi là sốt
rét). Đồng chí Phạm Việt Tử phải dùng bơm tiêm ký ninh vào tĩnh mạch, nói rằng,
loại thuốc này có hiệu quả cắt cơn ngay tức khắc. Năm 1946, tôi công tác ở địa
khu Tứ Liên bị một trận sốt rét. Y tá cũng dùng ký ninh tiêm tĩnh mạch. Mũi kim
vừa rút khỏi tay, tôi liền ngất đi, may có các đồng chí xung quanh xúm vào cứu
chữa, hồi lâu mới tỉnh lại. Sau đó hỏi bác sĩ tôi mới biết, tiêm ký ninh vào
tĩnh mạch vô cùng nguy hiểm. Trước đó, Phạm Việt Tử tiêm tĩnh mạch Hồ Chí Minh
mà không xẩy ra sự cố, quả là đại hạnh cho toàn dân Việt Nam. (“Hạt thóc
trên biển cả”- Hoàng Văn Hoan, trang 180- 181, NXB Giải phóng quân, Trung
Quốc, 1987).
22
– Tháng bảy năm 1945, Võ Nguyên Giáp kể: “Trên đường từ Tĩnh Khê (Trung Quốc)
về Việt Nam, bệnh cũ Hồ Chí Minh tái phát, nhiều ngày liền sốt cao, hôn mê bất
tỉnh. Chúng tôi tìm được một thày lang người dân tộc Đại biết cách điều chế môn
thuốc hạ nhiệt cho Bác uống mỗi ngày hai ba lần, cuối cùng bệnh cũng thuyên giảm,
sau đó mới tiếp tục công việc”. Thế nhưng về phía Hoa Kỳ, những ghi chép sự
kiện này lại không đúng như vậy. Một y sĩ thuộc Trung tâm chiến lược Hoa Kỳ
(nhóm nhảy dù) chẩn đoán, Hồ Chí Minh ngoài bệnh sốt rết còn mắc thêm chứng kiết
lỵ. (“Truyện Hồ Chí Minh”- William J. Duiker, trang 301- 302).
23
– Vào năm 1950, sau khi Trung cộng chiếm được Trung Quốc, báo chí Đại lục phần
lớn đều đưa tin Hồ Chí Minh đến Trung Quốc chữa bệnh, tuyệt nhiên không nói đến
việc điều trị chứng lao phổi.
Tổng hợp các tư liệu về bệnh tình Hồ Chí Minh
(Nguyễn Ái Quốc):
Năm
1933, hồ sơ ghi chếp về bệnh sử Hồ Chí Minh đều liên quan mật thiết đến chứng
lao phổi, hoàn toàn phù hợp với căn bệnh lao phổi của Nguyễn Ái Quốc năm 1932.
Vậy mà sau năm 1933, hầu như không nói đến bệnh này trong hồ sơ bệnh án Hồ Chí
Minh. Cuối cùng, vào tháng 9 năm 1969, khi ông qua đời, căn bệnh được công bố
chính thức lại là bệnh tim. Trong khi ấy, nhiều hồ sơ ghi chép về Hồ Chí Minh
vào năm 1933, khi mới đến Mạc Tư Khoa, đều khẳng định sức khỏe của ông rất tệ hại
bởi bệnh lao phổi, thỉnh thoảng lại ho ra máu. Điều này, đã được giáo sư Nguyễn
Khánh Toàn kể lại trong hồi ký. Vậy mục đích của họ là gì? Câu trả lời là: để tạo điều kiện thuận lợi cho Hồ Chí Minh
tiếp tục sự nghiệp cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc, cố ý giấu đi cái chết
vì bệnh phổi của Nguyễn Ái Quốc, dùng thân phận Hồ Chí Minh thay thế, tạo ra sự
lẫn lộn trong bệnh sử của hai người.
Màn hai
Tiết mục Nguyễn Ái Quốc
“chết rồi sống lại”
C
ăn cứ vào hồi ký của tình báo viên Anh Quốc Paul
Draken, khi ông này tham gia vào vụ giải cứu Nguyễn Ái Quốc chạy thoát khỏi
Hương cảng thì: “Vào đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng bằng
thủy phi cơ đến bến sông Hoàng Phố, Thượng Hải”. Trong khi đó, các tác giả
viết truyện ký về Hồ Chí Minh lại dẫn dựng những tư liệu sau này về Hồ Chí
Minh: “Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng bằng thuyền đến Hạ
Môn”. Hai tư liệu đương nhiên là không thống nhất, bởi thời gian này còn
dính dáng đến mùa thu năm 1932 báo chí đưa tin Nguyễn ái Quốc bị bệnh chết. Vì
thế, xác định được, thực chất Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng vào thời gian nào
là vấn đề vô cùng quan trọng.
Điều cần nói là, việc Nguyễn
Ái Quốc chết có phải là sự thật? Và Hồ Chí Minh có phải đã chơi trò ú tim chết
rồi sống lại? Vì thế, nhất định phải tìm được chứng cứ gốc, cẩn trọng so sánh,
đối chứng các tài liệu thật giả mới có thể xác định được sự kiện Nguyễn Ái Quốc
bị bắt, bị thẩm vấn, bị mất tích, và, cuối cùng là tử vong để trả lại công bằng
cho lịch sử.
Vụ án Nguyễn Ái Quốc bị bắt tại Hương Cảng
Vào lúc 2 giờ sáng ngày 6
tháng sáu năm 1931, tại số nhà 186 phố Tam Long, Hương Cảng, cảnh sát Hương
Cảng bắt Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái Quốc bị bắt liên quan đến vụ Hilaire Noulens
chấn động Trung Quốc một thời. (Hilaire Noulens tên thật là Jakov Rudink, sinh
năm 1894 tại Ukraine, liên lạc viên của Quốc tế cộng sản tại Cục Viễn Đông).
Bắt đầu là cảnh sát Anh Quốc cùng với mật thám Pháp phối hợp, vào tháng sáu năm
1931, bắt được Joseph Ducroix. vốn là đảng viên Cộng sản Pháp đang giữ chức Bí
thư Công hội Quốc tế cộng sản. Joseph Ducroix tên thật là Serge Lefrance, khai
ra những bí mật của Cục Viễn Đông đã cử Hilaire Noulens và Nguyễn Ái Quốc chia
nhau đến Thượng Hải và Hương Cảng, vì thế cảnh sát Anh đón lõng bắt được. Lúc
ấy Serge Lefrance đăng ký địa chỉ tại số nhà 186, phố Tam Long, Hương Cảng.
Vụ án “Tòa Hương Cảng thẩm vấn Nguyễn Ái
Quốc”
Sau khi Nguyễn Ái Quốc bị bắt,
chính quyền Pháp yêu cầu nhà cầm quyền Hương Cảng dẫn độ về Hà Nội. Lúc này
Quốc tế cộng sản thông qua “Hội cứu tế đỏ” đề nghị có biện pháp cứu
giúp bằng cách mời luật sư nổi tiếng người Anh là Frank Loseby biện hộ cho Tống
Văn Sơ. (Tống Văn Sơ là bí danh của Nguyễn Ái Quốc ở Hương Cảng). Tòa án Hương
Cảng đã có chín phiên xử công khai thẩm vấn Nguyễn Ái Quốc, tạo thành một sự
kiện quốc tế, khiến cả thế giới phải quan tâm.*
Phiên thứ nhất mở ngày 1 tháng
tám, chánh tòa Hương Cảng phán quyết tội danh Tống Văn Sơ như sau: “Tống
Văn Sơ tức Nguyễn Ái Quốc, là tay sai của Nga Xô, phái viên Đệ tam quốc tế, đến
Hương Cảng hoạt động phá hoại, vì thế, đợi đến ngày 18 tháng 8 sẽ trục xuất
khỏi Hương Cảng, áp giải về Việt Nam trên chiếc tàu Algiers của Pháp”. Vừa
nghe chánh tòa tuyên án, trợ lý của luật sư Loseby là luật sư J.C đã kịch liệt
lên án việc bắt người trái phép và giam trong ngục 14 ngày mà không trả tự do
cho thân chủ của ông ta. Sau một hồi tranh biện, pháp quan rung chuông tuyên bố
Tòa tạm nghỉ.
Phiên thứ hai mở ngày 15 tháng
tám, tranh luận và thẩm vấn 7 điểm qua các chứng cứ có tính hợp pháp của đương
sự. Cuối phiên, Tòa phải thừa nhận sai lầm và rung chuông tạm nghỉ.
Phiên thứ ba mở ngày 17 tháng
tám. Thẩm phán trưởng tuyên bố, nếu như tòa án không có khả năng giải quyết
những vấn đề đã nêu ra…, nếu không chấp nhận đưa lên tàu Algiers về Việt Nam
thì sẽ đưa lên tàu
梅當埃將軍
(Mai Đương Ai Tướng Quân), để đến ngày 1 tháng chín rời khỏi Hương Cảng.
Phiên
xử thứ tư vào chiều ngày 17 tháng tám. Bắtt đầu phiên tòa, thẩm phán trưởng
nói: “Lệnh trục xuất Tống Văn Sơ đã được ký, đề nghị không tiếp tục xử nữa”.
Luật sư J.C trong lòng mừng thầm, đồng ý với thẩm phán trưởng và đề nghị, phiên
xử cuối cùng vào thứ năm ngày 20 tháng tám. Như vậy, nhà đương cục Hương Cảng
không thể thực hiện lời hứa với chính quyền Pháp là trục xuất Tống Văn Sơ vào
ngày 18 tháng tám.
Buổi
sáng và buổi chiều ngày 20 tháng tám là ngày xử phiên thứ năm và thứ sáu. Không
khí phiên tòa rất căng thẳng. Luật sư J.C đã đề nghị ngày 12 tháng tám sẽ có lệnh
trục xuất của Thẩm phán trưởng tại Tòa, vì sao mãi đến ngày 15 tháng tám, trong
phiên xử thứ hai mới có? Ông yêu cầu chuyển ý kiến của ông đến Toàn quyền và Ủy
viên hành chính Hương Cảng đối chất. Đến đây chánh án tuyên bố Tòa tạm nghỉ, mời
luật sư J.C bàn bạc. Phiên xử tiếp tục, pháp đình đề xuất lý do 2 điểm trục xuất
Tống Văn Sơ như sau:
1-
Tống Văn Sơ tức Lý Thụy, cũng là Nguyễn Ái Quốc, là phần tử Cộng sản, đặc phái
viên của Đệ tam quốc tế, đã tuyên truyền những điều có hại đối với an ninh
Hương Cảng.
2
– Quê quán của Nguyễn Ái Quốc tại Đông Dương (An Nam), từ năm 1929 đã bị tuyên
án tử hình vắng mặt, chính quyền Đông Dương yêu cầu chính quyền Hương Cảng dẫn
độ về Đông Dương quy án.
Ngày
25 tháng tám, phiên tòa thứ bảy khai mạc, luật sư J.C có bài có bài thuyết
trình về vấn đề chính trị phạm. Tống Văn Sơ vì nền độc lập dân tộc, tham gia vận
động cách mạng, vì vậy không thuộc diện trục xuất mà pháp luật Hương Cảng đề cập
tới. Luật sư chỉ trích Thẩm phán trưởng, Công tố viên, Pháp quan, Toàn quyền và
Toàn quyền ủy viên hội đều chấp pháp sai lầm trong vụ án Tống Văn Sơ. Tuy nhiên
nhưng lời biện hộ đó chưa làm cho nhà đương cục Hương Cảng thay đổi thái độ.
Phiên
thứ tám mở vào ngày 2 tháng chín năm 1931. Tại phiên xử này Chánh tòa Hương Cảng
buộc phải thừa nhận:

Bắt giữ Tống Văn Sơ là một sai lầm.

Giam giữ Tống Văn Sơ trong ngục cũng là một sai lầm.

Hỏi cung không phù hợp với trình tự tố tụng.

Nhà đương cục Hương Cảng ngụy tạo lời khai của đương sự.
Tuy
vậy, tại phiên xử thứ chín ngày 19 tháng chín năm 1931, Tòa án vẫn cưỡng ép
phán quyết trục xuất Tống Văn Sơ về Đông Dương. Luật sư J.C cực lực phản đối.
Ông tuyên bố sẽ gửi kháng nghị lên Viện Khu mật hoàng gia London, Anh Quốc.
Chú thích:
*
Sự việc có liên quan đến tòa án Hương Cảng thẩm tra, có thể xem Dennis Ducanson
“Hồ Chí Minh ở Hương Cảng, 1931- 1932”, Nguyễn Việt Hồng 1996 “Sự
kiện 1931 ở Hương Cảng”,
Dennis J. Duncanson “Trung
Quốc quý san”, (tháng 1 đến 3 năm 1974), là tài liệu viết tay Nguyễn Việt
Hồng dẫn dụng từ hồ sơ đã giải mật của Anh Quốc (“Hoàng gia đáng án
quán”, năm 1931 Z225C, HEIII,VOLIII/40 – 1240 hiệu quyển tông đích tư liệu).
Viện Khu mật Hoàng gia London xét xử – Chống án
Luật sư Loseby đã dự đoán,
tTòa án Hương Cảng sẽ phán quyết trục xuất Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam, lập tức
viết đơn kháng cáo lên Viện Khu mật Hoàng gia Anh Quốc. Tòa Hương Cảng nhận đơn
kháng án để chuyển về London với ba điều kiện như sau:
1- Trong vòng 14 ngày đương sự
phải đệ trình đơn kháng cáo.
2 -Trong vòng 90 ngày phải
chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án về Viện Khu mật.
3 – Nộp 500 dollars lệ phí.
Cả ba điều kiện này luật sư
Loseby đều chấp nhận.
Do đơn kháng án phải qua thời
gian mấy tháng thẩm định mà Nguyễn Ái Quốc lại bị lao phổi trầm trọng, thân thể
suy nhược nên ông được chuyển từ nhà tù Victoria đến bệnh xá trại giam Bảo Vân
Đạo điều trị.
Người
biện hộ cho Nguyễn Ái Quốc là luật sư D. N. Pritt, biện hộ cho nhà đương cục
Hương Cảng là luật sư S. Cripps. Hai vị này đều là bạn của luật sư Frank
Loseby. Luật sư P. N. Pritt là con trai nghị viên cánh tả, huân tước Palme. Luật
sư Pritt đã thu thập đầy đủ thông tin vụ án từ luật sư Loseby. Sau khi thống nhất
kế hoạch trong nhóm, ông mời luật sư Cripps đề xuất kế hoạch Tống Văn Sơ sẽ thắng
trong phiên xử, hy vọng luật sư Cripps, vì tình bạn bè và lương tâm nghề nghiệp,
đứng ra bảo vệ công lý, bảo vệ chính nghĩa. Hai ông đã thống nhất phương án giải
quyết, tìm mọi cách buộc chính quyền Hương Cảng trả tự do cho Tống Văn Sơ mà
không mất thể diện.
Đầu
năm 1932, Khu mật viện Hoàng gia Anh Quốc mở phiên tòa. Luật sư D. N. Pritt và
luật sư S. Cipps trình bày tóm tắt nội dung vụ án và phát biểu ý kiến cá nhân
sau đó đề xuất biện pháp giải quyết:
1
-Trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc.
2
– Nguyễn Ái Quốc chỉ cần rời khỏi Hương Cảng, sau đó có thể đi đến bất cứ nơi
nào mình muốn.
3
– Lúc ra đi và sử dụng phương tiện giao thông nào đều do tự mình quyết định.
Khu
mật viện Hoàng gia Anh Quốc đồng ý với kiến nghị trên, đồng thời yêu cầu chính
quyền Hương Cảng thông báo quyết định này. Cuối cùng, ngày 27 tháng sáu năm
1932, luật sư hai bên đã có được kết quả chung, đề nghị Viện Khu mật kết thúc vụ
án. Nhà cầm quyền Hương Cảng chấp hành án quyết, trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc
và cấp cho ông 400 dollars làm lộ phí.**
Chú thích
**
London (“Hoàng gia Viện Khu mật – Thẩm thượng tố” án, xem thêm Denis
Duncanson “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng năm 1931 đến
năm 1932”, Nguyễn Việt Hồng ,1936 “Sự kiện Hương Cảng năm 1931”
và “Truyện Hồ Chí Minh” của William J, Duiker, trang 205-207, nội
dung dẫn từ bức thư của Burton ngày 6 tháng tháng 10 năm 1932 gửi Bushe; bức
thư của Cowell ngày 30 tháng 12 năm 1931 và của Howard Smith ngày 15 tháng 10
năm 1931 gửi chính phủ thực dân Shuck Burgh đều còn lưu giữ tại chính quyền
Hương Cảng. Sophie Quinn-Judge trong “Những năm tháng mất tích của Hồ Chí
Minh, 1911-1941”, trang 193 viết, nội dung dẫn từ bức điện báo từ Hà Nội gửi
đến Sài Gòn ngày 24 tháng 8 năm 1931 và ngày 31 tháng 12 năm 1931 do Cowell gửi
(PRO CO 129/535/3 trang 27.
Vụ án Nguyễn Ái Quốc đến Singapore bị buộc phải quay lại Hương Cảng
Đầu năm 1932, Khu mật viện Hoàng gia Anh Quốc mở phiên
tòa với phán quyết trả lại tự do cho Nguyễn Ái Quốc. Do sự sắp xếp của luật sư
Loseby, ngày 6 tháng giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng đến
Singapore. Tuy nhiên cảnh sát Singapore không cho nhập cảnh mà bắt ông phải
quay lại. Cảnh sát Hương Cảng buộc phải tiếp nhận Nguyễn Ái Quốc và hứa sẽ đăng
ký hộ khẩu. Ngày 19 tháng giêng năm 1932, cảnh sát Hương Cảng lại bắt Nguyễn Ái
Quốc. Nhà đương cục Hương Cảng chẳng cần để ý đến bản chất sự việc mà tuyên bố
Nguyễn Ái Quốc xuất cảnh trái phép, đến ngày 22 tháng giêng lại phóng xuất ông
với mệnh lệnh, nội trong 3 ngày phải rời khỏi Hương Cảng. Từ đấy Nguyễn Ái Quốc
mất tích.
Tường thuật sự kiện “Nguyễn Ái Quốc đến Singapore
nhưng lại buộc phải trở về Hương Cảng”, các chuyên gia nghiên cứu đều có
quan điểm thống nhất về nội dung nhưng lại không nhất trí được với nhau vê thời
gian. Nguyên nhân dẫn đến  tình trạng này
là bởi đầu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc tự nhiên mất tích mà không có bất cứ tờ báo
nào đưa tin. Sau này người ta  chỉ được
nghe một câu chuyện có tính chất ngụy tạo về Hồ Chí Minh, là đầu năm 1933, Nguyễn
Ái Quốc rời Hương Cảng đến Hạ Môn, nảy sinh một khoảng thời gian gián đoạn.
Liên kết thời gian “rời Hương Cảng” với “đến Hạ Môn” cùng sự
thật trước và sau đã xẩy ra, các chuyên gia, học giả rất dễ mắc sai lầm khi đem
thời gian “rời Hương Cảng” từ đầu năm 1932 kéo dài tới đầu năm 1933 tạo
ra sự sai lệch vừa tròn 1 năm.
Giáo sư Tưởng Vĩnh Kính trong “Hồ Chí Minh ở
Trung Quốc”, trang 74, cũng giống như Paul Draken trong “Nguyễn Ái Quốc”
cùng nói về thời gian Nguyễn Ái Quốc đến Singapore vào đầu năm 1932. Cựu Đại sứ
Trung Quốc tại Việt Nam Lý Gia Trung, trong “
Chủ
tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh “, trang 217 viết khá tối nghĩa: “Thời
gian đến Singapore không thấy có ghi chép, chỉ nói thời gian đầu năm 1933 rất vội
vàng đến Hạ Môn”. Thời gian mà William J. Duiker cũng như Sophie Quinn-
Judge ghi chép đều vào ngày 6 tháng giêng năm 1933 Nguyễn Ái Quốc đến
Singapore. Như vậy, những ghi chép của các nhà nghiên cứu chia thành hai phe rất
không trùng khớp với nhau là “đầu năm 1932” và “đầu năm
1933”. Về lý mà nói, các học giả hữu quan đều thống nhất nhận định đầu năm
1932, theo phán quyết của Viện Khu mật Hoàng gia Anh Quốc, là đồng ý với đề nghị
của luật sư hai bên, trả lại tự do cho Nguyễn Ái Quốc, trong thời hạn 21 ngày
phải rời khỏi Hương Cảng, vậy thì làm sao có thể trì hoãn đến đầu năm 1933? Hơn
thế, từ Hương Cảng đến Hạ Môn, đường đi cũng chỉ mất một đến hai ngày, chẳng có
lý do gì hành trình kéo dài những 1 năm. Lại nữa, trong những hồ sơ liên quan đến
Nguyên Ái Quốc, không tìm thấy bất cứ tài liệu nào ghi chép về chuyến đi dài
ngày này. Vì thế, nói rằng “có chuyến đi Singapore vào đầu năm 1933”
thật sự là vô lý.
William
J. Duiker và Sophie Quinn-Judge đề dẫn tư liệu từ “Hồ sơ Quân đội viễn
chinh Pháp Quốc thuộc bộ phận hải ngoại”, số hiệu 369 và của Dennis J.
Duncanson trong “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng, năm 1931- 1932”, vậy làm
sao có khả năng mãi đến đầu năm 1933 mới đi Singapore? Rất khó giải thích. Và,
nếu quả là vào đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc mới đi Singapore thì rõ ràng mâu
thuẫn với phần tiếp sau (thời gian Nguyễn Ái Quốc từ Hạ Môn đến Thượng Hải).
William
J.Duiker và Sophie Quinn-Judge đều là những học giả chuyên nghiệp, làm việc
nghiêm cẩn, thực tế không thể mắc sai lầm trong việc xác định thời gian. Sở dĩ
có tình trạng này là bởi các vị vẫn cho rằng Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc chỉ
là một người, mà không biết rằng, còn có một nhân vật khác ngoài Nguyễn Ái Quốc
tham gia vào vở kịch này. Đó là lý do để người ta đem thời gian từ ngày 6 tháng
giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc đi Singapore, kéo dài đến ngày 6 tháng giêng năm
1933, Nguyễn ÁI Quốc đi Hạ Môn liên kết thành một chỉnh thể, để tạo ra sự ngộ
nhận lịch sử.
Sự
kiện “Nguyễn Ái Quốc đi Singapore bị buộc trở lại Hương Cảng”, cần
xem thêm “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng, năm 1931- 1932” của Dennis J.
Duncanson và “Sự kiện Hương Cảng năm 1931” của Nguyễn Việt Hồng. Giáo
sư Tưởng Vĩnh Kính trong “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc”, trang 74, nội
dung dẫn từ Bernard  B. Fall, “Le
Vietminh 31” ( Librarie Armand Colin, 1960 see Hoang Van Chi, P.50).
William
J. Duiker trong “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 208- 209, nội dung dẫn từ
Dennis J. Duncanson “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng năm 1931- 1932”, trang
99.
“Những
năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”- Sophie Quinn-Judge, trang
193, nội dung dẫn từ “Hồ sơ Quân đội viễn chinh Pháp Quốc thuộc bộ phận hải
ngoại”, số hòm 369″.
“Nhật
ký Paul Draken, ghi chép về Nguyễn Ái Quốc” của Paul Draken.
Sự kiện Nguyễn Ái Quốc mất tích ở
Hương C
ng
Đầu
năm 1932 Nguyễn Ái Quốc đi Singapore, như vậy, thời gian từ Singapore trở lại
Hương Cảng cũng trong tháng giêng năm 1932, không thể nào kéo mãi sang năm
1933. Hơn thế, trong năm 1933 không có bất cứ tờ báo nào đưa tin Nguyễn Ái Quốc
mất tích. Chuyện Nguyễn Ái Quốc trốn khỏi Hương Cảng đến Hạ Môn đều là lời kể
16 năm sau của Hồ Chí Minh, bút danh Trần Dân Tiên trong cuốn sách “Những
mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”. Nói cách khác, sau khi Nguyễn
Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng vào đầu năm 1932, không một ai biết ông đi đâu,
hành tung thật sự bí hiểm, vì thế mới thành sự kiện “mất tích ở Hương Cảng”.
Mười sáu năm sau Hồ Chí Minh  nói ngược lại:
“Sau khi trốn khỏi Hương Cảng, tôi đi Hạ Môn”, việc này đích thị là
trò bịp bợm.
1 – William J. Duiker trong “Truyện Hồ Chí
Minh”,  trang 209 viết:
Sau
khi Nguyễn Ái Quốc bị buộc quay trở lại, nhà cầm quyền Hương Cảng không thèm để
ý đến bản chất sự việc, mà cho rằng ông ta xuất cảnh trái phép, chẳng quan tâm
đến kháng nghị của cảnh sát địa phương, tuy nhiên, ngày 22 tháng giêng năm
1932, lại phóng thích ông, đồng thời ra lệnh trong vòng ba ngàyphải rời khỏi
Hương Cảng.Vợ chồng luật sư Frank Loseby lần này lại sắp xếp cho Nguyễn Ái Quốc
ở một nơi bí mật, sau đó tìm cách để ông rời khỏi Hương Cảng. Kế hoạch được đặt
ra là, Nguyễn Ái Quốc sẽ ra đi bằng tàu thủy đến Hạ Môn vào ngày 25 tháng giêng
trong vai một nhân viên phiên dịch. Để tránh con mắt lực lượng bảo an Pháp,
Nguyễn Ái Quốc đợi trời tối, được cảnh sát mặc thường phục hộ tống xuống thuyền,
rồi lại dùng xuồng máy của chính phủ Hương Cảng đưa ra ngoài eo biển Lý Ngư là
nơi tàu đậu đón khách.
2 – Sophie Quinn-Judge trong “Những năm
tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”-, trang 195 viết:
Nguyễn
Ái Quốc buộc phải trở về Hương Cảng, sau đó bị bắt lại vào ngày 19 tháng giêng.
Toàn quyền Hương Cảng William Peel ra quyết định (không cần biết lý do) bắt
giam Nguyễn Ái Quốc (là di dân trái phép) tống giam thời hạn 1 năm theo quy định
của luật pháp hiện hành, đồng thời cự tuyệt yêu cầu của lãnh sự Pháp
Teyssières. Sau đó Hồ Chí Minh rời khỏi Hương Cảng. Lần này Frank Loseby thuyết
phục đươc nhà cầm quyền Hương Cảng để ông tự chon nơi đến. Toàn quyền Peel giải
thích bằng công văn, cuối ngày 22 tháng giêng sẽ sắp xếp cho Hồ Chí Minh lên một
chiếc thuyền (không phải của chính phủ Hương Cảng) chở đến chiếc tàu “An
Huy Châu Tế” đậu ngoài bến Hương Cảng.
3 – Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa nhân dân
Trung Hoa tại Việt Nam, trong  ” Chủ
tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh “, trang 218 viết:
Sau
khi Nguyễn Ái Quốc buộc phải trở lại Hương Cảng, bị giam trong ngục, có nhờ một
cai ngục chuyền mảnh giấy thông báo tình hình đến luật sư Frank Loseby. Loseby
lập tức đến gặp Toàn quyền William Peel. Ông này đồng ý lập tức trả lại tự do
cho Nguyễn Ái Quốc và giao phạm nhân cho Loseby xử lý. Lúc này Nguyễn Ái Quốc
được bố trí ở tạm trong gian phòng bí mật một nhà thờ Thiên chúa giáo. Phu nhân
luật sư làm nhiệm vụ người đưa cơm hàng ngày. Theo lời dặn của Loseby, thư ký của
ông là Long tiên sinh đem đến cho Nguyễn Ái Quốc một chiếc áo lông, một áo
khoác ngoài rộng tay, một chiếc quần dài sang trọng và một túi xách trong để tờ
giấy đã viết sẵn mấy chữ. Vào lúc hoàng hôn, một người trong trang phục giáo
sư, thản nhiên bước ra khỏi ký túc xá, qua cửa lớn rồi lên một chiếc kiệu. Bên
cạnh kiệu là một người châu Âu mang kính trắng, tay cầm cây bút. Người đàn ông
châu Âu đó chính là luật sư Frank Loseby, còn vị giáo sư chính là Nguyễn Ái Quốc.
Luật sư mời Nguyễn Ái Quốc lên xe sau khi liếc mắt nhìn trước nhìn sau không thấy
có dấu hiệu mật thám, liền quay xe về phía nhà mình. Vợ chồng Loseby cùng Phó
Toàn quyền bàn bạc. Ông ta đồng ý gặp Toàn quyền William Peel đề nghị giúp đỡ
và được Toàn quyền chấp thuận.
4 – Paul Draken trong “Nhật ký Long Bảo
La” viết về Nguyễn Ái Quốc như sau:
Tôi
và Nguyễn Ái Quốc gặp nhau trong căn hầm của Tổng bộ cảnh sát. Ông ta là một
người trung niên thân hình ốm yếu, mắc bệnh phổi, xem ra tình hình sức khỏe
không tốt. Nguyễn Ái Quốc biết  tiếng Hoa
và tiếng Pháp nên chúng tôi có thể nói chuyện được với nhau: “Tôi là Paul
Draken, đại diện Bộ Ngoại giao Anh Quốc , được cử đến đây giúp đỡ tiên sinh xuất
cảnh, xin hỏi, ngài định đến nơi nào?”. Nguyễn Ái Quốc uể oải trả lời
trong khi vẫn không dứt cơn ho: “Tôi muốn đến Liên Xô”.
“Liên
Xô? Vậy tốt nhất là nên qua lối Thượng Hải, như vậy tôi sẽ có hân hạnh được
tháp tùng ngài, đến Thượng Hải sẽ tùy ngài quyết định đi đâu”. Tuy nhiên
luật sư Loseby tỏ ra lo lắng: “Tôi chỉ sợ mật thám Pháp đã ngầm cử sát thủ
đến Hương Cảng, vậy phải làm thế nào để đảm bảo cho Nguyễn tiên sinh an toàn xuất
cảnh?”. Lúc này, cả hai chúng tôi đều ngẩng lên nhìn Cảnh sát trưởng. Cảnh
sát trưởng cáo già khôn khéo xua tay thoái thác: “Tôi đã biết ý các ngài.
Chúng tôi có thể bố trí tóm được đám sát thủ Pháp, nhưng việc này phải tuyệt đối
giữ bí mật, nếu để lộ ra, chính phủ Anh Quốc sẽ khó ăn nói với người
Pháp”. Ngẫm nghĩ một lúc, ông ta nói tiếp: “Chỉ cần các ngài đề xuất
biện pháp xuất cảnh an toàn, tôi sẽ rất vui được “thuận nước giong thuyền”,
có điều phải nói trước, vạn nhất, sự việc bị vỡ lở, tôi sẽ không thừa nhận, đến
lúc đó sẽ đắc tội với chính quyền địa phương, mong nhị vị thông cảm”.
Ra
khỏi Tổng bộ cảnh sát, Loseby lớn tiếng chửi Cảnh sát trưởng là một gã xảo trá.
Bất chợt, tôi nảy ra một kế. Loseby vốn rất quen thân với Toàn quyền Hương Cảng,
nếu được ông ta đứng ra giải quyết vụ này, có thể xem đấy như một là bùa hộ mệnh,
tránh được thất bại do Cảnh sát trưởng có ý đồ phản thùng. Tuy nhiên, cách làm
hơi mạo hiểm là đóng giả làm khách của Toàn quyền William Peel ra thăm bến cảng,
sau đó chuyển lên chiếc thủy phi cơ “Trân châu Trung Quốc” bay đi Thượng
Hải. Nghĩ vậy, tôi bèn đem ý tưởng này bàn với Loseby. Luật sư cảm thấy có thể
thành công liền phân công nhau chuẩn bị hành động.
5 – Phân tích về sai lầm và sự thật
Ghi
chép về sự kiện Nguyễn Ái Quốc mất tích tại Hương Cảng nhất dịnh phải làm rõ
hai vấn đề quan trọng:
a
– Thời gian rời Hương Cảng và nơi đã đi qua?
b
– Sau khi rời Hương Cảng thì đến nơi nào?
Về
cơ bản, các chuyên gia nghiên cứu sự kiện “mất tích”  của Nguyễn Ái Quốc tại Hương cảng là khá thống
nhất về thơi gian và nơi đi qua, được xem là khả tín. Đặc biệt, Đại sứ Lý Gia
Trung, trong bài viết của mình, đã trích dẫn “Sự kiện Hương Cảng năm
1931” của Nguyễn Việt Hồng dẫn từ nguồn tư liệu Hồ sơ Hoàng gia Anh Quốc mới
được giải mật. Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc, Paul Draken, trong hồi ký của mình
đã viết, ông từng tham gia giải cứu Nguyễn Ái Quốc. Hai tác phẩm trên đều đưa
ra những thông tin tương đối giống nhau về sự kiện Nguyễn Ái Quốc rời khỏi
Hương Cảng, thậm chí còn nói rõ cả việc Toàn quyền Hương Cảng William Peel cũng
tham dự vào việc xây dựng kế hoạch chuẩn bị cho Nguyễn Ái Quốc đào thoát. Khách
quan mà nói, những tư liệu trên đều có độ tin cậy cao. Tuy nhiên, đến đoạn tường
thuật về quá trình rời khỏi Hương Cảng và sau khi đã rời khỏi Hương Cảng thì độ
tin cậy thấp, bởi phần này do Hồ Chí Minh tự mình kể lại cùng những tư liệu của
báo chí Cộng sản Việt Nam. Nói cách khác, các ông trình nghiên cứu sự kiện Nguyễn
Ái Quốc trốn khỏi Hương Cảng, phần đầu diễn ra đúng với sự thực lịch sử, nhưng
phần sau thì tất cả các bài viết đều cùng một giọng, nói rằng: “Sau khi rời
Hương Cảng, Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn”. Thực ra đây chính là cái bẫy của trò đánh tráo “dời hoa tiếp
cây” của Hồ Chí Minh.
Kiến
giải về việc Hồ Chí Minh từ Hương Cảng đến Hạ Môn, thời gian là không liên tục.
Các tình tiết trong quá trình này là rất bất hợp lý. Duy chỉ có Paul Draken ghi
chép về Nguyễn Ái Quốc trong nhật ký của mình là cung cấp thông tin ngược lại.
Ông viết: “Sau khi xuống thuyền nhỏ
rời cảng, Nguyễn Ái Quốc được đưa lên chiếc thủy phi cơ “Trân Châu Trung
Quốc” bay đến Thượng Hải, hạ cánh xuống bến sông Hoàng Phố”
. Đây
là thông tin hợp lý, có thể tin cậy, bởi nó đã giải thích được nguyên nhân Nguyễn
Ái Quốc mất tích ở Hương Cảng.
1- Giải thích nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc mất
tích ở Hương Cảng.
Sau
chuyến Nguyễn Ái Quốc đi Singapore bị buộc trở về Hương Cảng, lập tức có tin
truyền ra là “mất tích”. Cái gọi là “mất tích” chẳng qua là
do nhà cầm quyền hương Cảng tung hỏa mù để giấu kín thông tin. Sự thật thì,
Toàn quyền Hương Cảng cũng tham dự vào vụ đưa Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng. Chẳng
những thế, chính phủ Anh Quốc còn cử nhân viên tình báo đến chỉ đạo công việc,
chứng tỏ, nhà đương cục Hương Cảng đặc biệt quan tâm đến vụ việc này. Việc loan
truyền tin Nguyễn Ái Quốc mất tích xuất phát từ mấy nguyên nhân sau:
a/
Tránh được sự tranh chấp giữa chính quyền Hương Cảng và Cục cảnh sát di dân (tước
đoạt mất tiền thưởng của Cảnh sát trưởng), nên đã bí mật hành động.
b/
Chính quyền Hương Cảng muốn tránh cặp mắt nhòm ngó của lãnh sự Pháp và mật thám
Pháp nên phải rất thận trọng khi đưa Nguyễn Ái Quốc ra khỏi Hương Cảng.
c/
Giữ được uy tín của chính phủ Hoàng gia Anh Quốc mà vẫn không ảnh hưởng đến
quan hệ bang giao hai nước, nên đã phái tình báo viên đến xây dựng kế hoạch, bí
mật đưa Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng.
2 – Sự thật về việc Nguyễn Ái Quốc trốn khỏi
Hương Cảng.
Như
trên đã nói, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng thuận lợi là bởi chính phủ Anh
cử tình báo viên xây dựng kế hoạch cùng với sự tham gia bí mật của Toàn quyền
William Peel. Sự kiện này đã được Paul Draken viết trong hồi ký của mình.
Nếu
đem ghi chép về Nguyễn Ái Quốc trong hồi ký của Paul Draken đối chiếu với
William J. Duiker, Sophie Quinn-Judge, cùng cuốn sách “Chủ tịch nước Việt
Nam Hồ Chí Minh ” của Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
tại Việt Nam, có dẫn dụng cả “Sự kiện Hương Cảng năm 1931” của Nguyễn
Việt Hồng, thì quá trình rời khỏi Hương Cảng của Nguyễn Ái Quốc hầu như hoàn
toàn nhất trí. Có thể xem đây chính là sự thật lịch sử. Từ đó suy luận tiếp
theo: “Cuối tháng giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng cùng
với bạn của Paul Draken là cô Anne Kennedy, người có chiếc thủy phi cơ Trân
Châu Trung Quốc’, bay đến bến sông Hoàng Phố, sau đó một đồng chí chèo con thuyền
nhỏ đón Nguyễn Ái Quốc về Thượng Hải”. (Anne Kennedy là chị họ của tổng thống
Hoa Kỳ thứ 35 John Kennedy, thân phụ là trùm dầu mỏ Hoa Kỳ, giáo phụ hắc bang
Thượng Hải Hoàng Kim Vinh là cha nuôi).
Nguyễn Ái Quốc trên đường từ
hương Cảng đến Hạ Môn
Đầu
năm 1933, liệu có phải Nguyễn Ái Quốc đã từ Hương Cảng đến Hạ Môn? Theo đó, vào
năm 1932 có đúng là, trên thực tế Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi? Còn
Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn đầu năm 1933 chính là Hồ Chí Minh? Đây được xem là
văn bản sớm nhất nói về sự kiện này. Sau đó, qua thời gian, người ta đã nhiều lần
thêm thắt, sửa chữa. Vì vậy, so với những ghi chép ở nhật ký Paul Draken trong
chiến dịch giải cứu Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải thì hoàn toàn khác nhau. Hai
quan điểm này khác nhau về thời gian, địa diểm đến và cả về lịch trình hành động.
Vậy quan điểm nào là đúng? Chúng ta hãy tham khảo những dánh giá của các chuyên
gia, học giả sau đây:
1 – Giáo sư Tưởng Vĩnh Kính trong tác phẩm
“Hồ Chí Minh ở Trung Quốc” đã viết:
“Đầu
năm 1932, Hồ được phóng thích và buộc phải rời khỏi Hương Cảng, căn cứ vào lời
tự kể thì ông đã đến Thượng Hải. Để tránh tai mắt mật thám, một luật sư ở Hương
Cảng đã sắp xếp cho ông ta cải trang thành nhà buôn Trung Quốc, lên tàu thủy ra
khỏi Hương Cảng an toàn. Sau khi đến Hạ Môn, Hồ ở lại đây nửa năm rồi mới đi
Thượng Hải”.
Nội
dung tường thuật của Tưởng Vĩnh Kính dẫn từ cuôn sách “Bác Hồ” của
Hoài Thanh và Thanh Tịnh, NXB Ngoại văn Hà Nội, Việt Nam, 1962).
2 – Trong tác phẩm “Truyện Hồ Chí
Minh”, trang 209, tác giả William J. Duiker viết
(Giáo
sư William J. Duiker dẫn từ nguồn: “Hồ sơ Quân đội viễn chinh Pháp Quốc
thuộc bộ phận hải ngoại”, số hiệu 369 và “Hồ sơ thông tin
1932”):
“Nguyễn
Ái Quốc được vợ chồng F.Loseby bố trí đi theo một nhân viên phiên dịch, chuẩn bị
vào ngày 25 tháng giêng sẽ lên tàu đến Hạ Môn. Sáng sớm hôm sau ngày đến Hạ
Môn, Nguyễn Ái Quốc và người phiên dịch xuống thuyền tìm đến quán trọ thanh
niên Trung Quốc và ở đấy qua tiết lập xuân. Sau mấy tuần, cảm thấy chẳng những
mất an toàn mà lại còn không biết tình hình bên ngoài ra sao, nên khi nhận được
tiền bạn bè quyên góp gửi vào giúp đỡ từ luật sư Loseby, ông cũng được đưa xuống
tàu thủy đi Thượng Hải”. Trong phần chú giải ở trang 619, giáo sư William
J. Duiker viết: “Nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hạ Môn rất không rõ
ràng, có khả năng trốn chạy đến Singapore rồi bị cảnh sát bắt giữ. Sự thật mối
quan hệ giữa Đại sứ quán Pháp tại Hương Cảng và cảnh sát Anh rất tốt. Cuối
tháng giêng, nhà đương cục Pháp có thông báo cho Singapore biết Nguyễn Ái Quốc
đã trốn khỏi Hương Cảng. Như thế có thể cảnh sát Pháp ở
Thượng Hải nhận định, nguyên
nhân là Nguyễn Ái Quốc đang lẩn tránh ở trung tâm thành phố. Lại căn cứ vào một
tài liệu gốc Việt Nam là “Hồ Chí Minh biên niên tùng thư”, quyển 2,
trang 42, và Trần Đạt Nhân “Vừa đi đường vừa kể chuyện”, trang 43, ta
dễ dàng nhận thấy, Nguyễn Ái Quốc mới đi khỏi Hạ Môn vào tháng bảy, chứng tỏ
ông đã ở Hạ Môn 6 tháng”.
Giải thích về sai lầm và sự thật.
Theo phân tích của giáo sư William
J. Duiker, trang 209 cùng với phần chú giải bổ sung trang 619, rõ ràng ở thời
gian trên, phần trước và phần sau mâu thuẫn với nhau. William J. Duiker cho rằng,
ngày 25 tháng giêng Nguyễn Ái Quốc rời Hương Cảng, ngày 26 đến Hạ Môn và ở Hạ
Môn qua tiết lập xuân mới đi Thượng Hải. Mặt khác, ông lại dẫn chứng những lời
biện giải từ tác phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của Trần Đạt Nhân,
thì đến tháng bẩy Nguyễn Ái Quốc mới rời Hạ Môn, chứng tỏ ông ta lưu lại Hạ Môn
6 tháng. Giải thích sự việc này hiển nhiên là để hợp lý hóa thời gian cho chuyến
đi từ Hương Cảng đến Hạ Môn, sau đó là từ Hạ Môn đến Thượng Hải. Đem ba địa danh Hương Cảng, Hạ Môn, Thượng
Hải gộp lại với nhau chính là nhằm mục đích định vị thời gian vào cuối tháng
giêng năm 1933, có điều đến tháng bảy mới rời Hạ môn mà nói rằng lưu lại Hạ Môn
6 tháng là không hợp lý, rất khó khó có thể vo tròn cho kín kẽ.
3 – Sophie Quinn – Judge trong “Những năm
tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”, trang 169, 195 và 197 viết:
William
Loseby thuyết phục Toàn quyền
Hương Cảng William Peel trợ giúp Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hương Cảng. Trong công văn, William
Peel giải thích, ông đã bố trí cho Hồ Chí Minh vào buổi chiều ngày 22 tháng
giêng xuống một chiếc thuyền nhỏ của tư nhân, không do chính quyền
Hương Cảng quản lý, ra ngoài
bến cảng, sau đó lên tàu “An Huy Châu Tế”. Hồ Chí Minh  cải trang thành một phú thương Trung Quốc
cùng thư lý của
William Loseby là Long tiên sinh đến Sán Đầu(3)
Một
người Thailand mật báo, vào tháng giêng năm 1935 đã chính mắt nhìn thấy Hồ Chí
Minh  lẩn trốn tại tỉnh Nakhon Phanom
(Thailand), tuy vậy về sau tin này được kiếm chứng là không chính xác‑(4).
Tháng
chín năm 1933, một người Pháp cũng đã cáo giác, chính mắt nhìn thấy Hồ Chí
Minh  cùng một đám người Việt ở Nam Ninh.
Nữ thám viên Maria nói, trong số 4 thanh niên trú tại số nhà 78, phố Tùng Khải,
có một người rất giống tấm ảnh chụp Hồ Chí Minh. Một người họ Tuyến nhìn thấy
trong nhà có 3 phụ nữ, 3 cô bé và một cậu bé. Ông ta nói, Hồ Chí Minh dùng tên
giả là Lý Tín Sơn.(5)
Vào
tháng sáu năm 1931, Cục cảnh sát Anh Quốc bắt giữ một người khả nghi được xem
là Nguyễn Ái Quốc thu một hộ chiếu dán ảnh Hồ Chí Minh .Hộ chiếu có thời hạn 6
tháng do Tổng lãnh sự Trung Quốc cấp,  nội
dung ghi “một công dân Trung Quốc đến công tác Xiêm La”.(6)
Chú thích:
(3):
Nguồn dẫn từ PRO,CO 129/535/ trang 2,3 và 4, ngày 31 tháng giêng năm 1933, thư
Toàn quyền  William Peel gửi Cunliffe-
Lister.
(4):
Nguồn dẫn từ: “Hồ sơ Quân đội viễn chinh Pháp Quốc thuộc bộ phận hải ngoại”,
số hiệu 369, hồ sơ liên quan đến Hồ Chí Minh tại Liêu Quốc.
(5):
Nguồn dẫn từ “Hồ sơ Quân đội viễn chinh Pháp Quốc thuộc bộ phận hải ngoại”,
số hiệu 383, ngày 5 tháng chín năm 1933, do Barthouet ký.
(6):
Nguồn dẫn từ: “Hồ sơ Quân đội viễn chinh Pháp Quốc thuộc bộ phận hải ngoại”(
Sự kiện bắt Hồ Chí Minh).
Giải thích về sai lầm và sự thật.
Sophie Quinn – Judge viết về
sự kiện Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn: “Hồ Chí Minh cải trang thành một phú
thương Trung Quốc cùng thư ký của
Loseby là Long tiên
sinh đến Sán Đầu. Phần chủ giải nói Long tiên sinh là Long Đình Chương. Dennis
J. Duncanson đi theo Long Đình Chương nên được biết thêm một số chi tiết”.
Đoạn tự thuật này không khỏi làm cho người ta nghi ngờ. Tạm thời chưa đi sâu
tìm hiểu về giai đoạn đến Sán Đầu, phải chăng việc đi Hạ Môn là do tác giả viết
nhầm? Tự nhiên lại nảy ra một cái tên Long Đình Chương. “Dennis J.
Duncanson đi theo Long Đình Chương nên được biết thêm một số chi tiết”(!?)
là rất đáng ngờ. Dennis J. Duncanson trong “Hồ Chí Minh ở Hương Cảng năm
1931- 1932” đã ghi chép những sự kiện xảy ra trong hai năm 1931- 1932, vậy
làm sao Nguyễn Ái Quốc lại có thể xuất hiện ở Hạ Môn?
William
J. Duiker trong phần nhận định về Nguyễn Ái Quốc đi Hạ Môn có dẫn ra 3 tư liệu:
“Một người Thailand mật báo, vào tháng giêng năm 1935 đã chính mắt nhìn thấy
Hồ Chí Minh  lẩn trốn tại tỉnh Nakhon
Phanom (Thailand), tuy vậy về sau tin này được kiếm chứng là không chính xác.
Tháng
chín năm 1933, một người Pháp cũng đã cáo giác, chính mắt nhìn thấy Hồ Chí
Minh  cùng một đám người Việt ở Nam Ninh.
Nữ thám viên Maria nói, trong số 4 thanh niên trú tại số nhà 78, phố Tùng Khải,
có một người rất giống tấm ảnh chụp Hồ Chí Minh. Một người họ Tuyến nhìn thấy
trong nhà có 3 phụ nữ, 3 cô bé và một cậu bé. Ông ta nói, Hồ Chí Minh dùng tên
giả là Lý Tín Sơn.
Vào
tháng sáu năm 1931, Cục cảnh sát Anh Quốc bắt giữ một người khả nghi được xem
là Nguyễn Ái Quốc thu một hộ chiếu dán ảnh Hồ Chí Minh. Hộ chiếu có thời hạn 6
tháng do Tổng lãnh sự Trung Quốc cấp, nội dung ghi “một công dân Trung Quốc
đến công tác Xiêm La”.
          Ba tư liệu đã dẫn chỉ là sự nhầm lẫn hay là đúng với đặc điểm
nhân vật? Chúng tôi đã nghiên cứu kỹ và đi đến kết luận, người ở trong cả 3 tư
liệu trên đều không phải là Nguyễn Ái Quốc. Người này thật ra đã bị Hồ Chí Minh
thay thế theo kiểu “dời hoa tiếp cây” vốn là Hồ Tập Chương, đến từ
Đài Loan. Năm 1931, Hồ Tập Chương đổi tên là Hồ Chí Minh, vì vậy mà hộ chiếu
mang tên Hồ Chí Minh, và danh xưng này đến sau năm 1942 thì được dùng thường
xuyên. Do đó, tấm ảnh chụp năm 1931, hiển nhiên là của Hồ Tập Chương, bởi vì
năm 1931, ông là phái viên của
Quốc tế cộng sản, được cử đến Thailand, Singapore tham gia Đại hội Đảng
Malaysia (xem Thiên II “Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người”).
          Kiến
giải về việc nhận nhầm người: Lấy ảnh Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh ) đem so sánh
với Nguyễn Ái Quốc, tự nhiên sẽ nhận ra sự nhầm lẫn, đến mức mật thám Pháp vào
tháng chín năm 1933 đã từng nhìn thấy Hồ Chí Minh cùng 4 thanh niên tại Nam
Ninh, trong đó có một người rất giống với tấm ảnh chụp Hồ Chí Minh. Căn cứ vào
sự kiểm tra các hạng mục tư liệu, 4 thanh niên Việt Nam ấy là Lê Hồng Phong, Hà
Huy Tập, Phùng Thế (Chí) Kiên và Hoàng Văn Hoan. Hồ Chí Minh đổi tên thành Lý
Tín Sơn chính thực là Hồ Tập Chương. Vào mùa hè năm 1932, nhóm người này đang
tạm trú ở Long Châu, Quảng Tây để chuẩn bị thành lập Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động hải ngoại sau này.
          Ý kiến
tận mắt nhìn thấy Hồ Chí Minh ở Nam Ninh vào tháng chín năm 1933,

William J. Duiker dẫn từ nguồn “Ghi chép về các hồ sơ” theo trình tự
thời gian nhưng chưa phát hiện ra thời gian cư trú tại Nam Ninh của Hồ Chí Minh.
Cho nên, cần phải xác định được thời gian trước tháng giêng năm 1933, ông ta ở
đâu, làm gì? mới có câu trả lời chính xác.
4- Trong tác phẩm “Chủ tịch nước Việt Nam
Hồ Chí Minh”- Lý Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt
Nam, trang 220 đến 222, viết:
          “Cuối tháng giêng năm 1933, một chiếc tàu biển cập bến
Hương Cảng, chuẩn
bị đi Hạ Môn, Thượng Hải và Nhật Bản. Luật sư Loseby đã mua sẵn 2 tấm vé đứng
đợi khách ở đầu tàu. Đó là một ngày cuối tháng chạp âm lịch, con tàu nhổ neo
rơi Hương Cảng tiếp tục hanh trình. Cùng lúc ấy, Toàn quyền Hương Cảng cử một
chiếc ca nô cắm cờ chạy đến bến Tây Hoàng. Thuyền trưởng được lệnh đón một vị
khách ở đây rồi chạy thẳng ra cảng, đuổi theo con tàu vừa khởi hành. Chẳng bao
lâu ca nô cập bến Hạ Môn. Cửa khẩu lúc này rất vắng, vì nơi đây đang chuẩn bị
đón tết Nguyên đán, chốc chốc lại rộn lên tiếng pháo. Long tiên sinh chính là
người của luật sư Loseby có nhiệm vụ hộ tống Nguyễn Ái Quốc. Hai người thuê xe
tìm đến nhà trọ. Vào phòng rồi, Nguyễn Ái Quốc nhìn ra ngoài cửa nhớ lại những
ngày qua, bất giác hình dung những ngày sắp tới của kẻ tha hương. Long tiên
sinh nói: “Hôm này là ngày ba mươi tết, rất tiếc giờ đã muộn, không thể
kiếm được hoa đào hay hoa mai”.
          5 – Sự nhầm lẫn trong sự kiện Nguyễn Ái
Quốc đi Hạ Môn.
          Trong
đoạn ghi chép về sự kiện Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn có mấy điểm sai lầm:
          a/ Đầu
năm 1932, Nguyễn Ái Quốc mất tích ở Hương Cảng, đến Hạ Môn vào đầu năm 1933 là
bất hợp lý. Hành trình từ Hương Cảng đến Hạ Môn chỉ vài ngày, nhưng ở đây lại
mất đúng một năm, rõ ràng là trái logic.
          b/ Ý
kiến cho rằng Nguyễn Ái Quốc ở Hạ Môn là quan điểm thống nhất theo cách biện
giải của báo chí và các công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh ở Việt Nam. Rõ
ràng cách nói “dưỡng bệnh nửa năm” ở Hạ Môn, đối với họ, không ngoài
mục đích giải thích cho việc Nguyễn Ái Quốc đã chết đầu năm 1932, đến mùa xuân
năm 1933, Hồ Chí Minh xuất hiện ở Hạ Môn, ngụy tạo nửa năm dưỡng bệnh, chính là
để tiếp nối với cái “tin đã chết”. Hành động trên chính là tạo tiền
đề cho việc viết tiểu sử Nguyễn Ái Quốc, nghĩa là, vào thời kỳ đầu năm 1933,
tiếp tục đến Hạ Môn, sau đó đi Thượng Hải, nên mới bịa ra chi tiết, trước khi
đến Thượng Hải, Nguyễn Ái Quốc ở lại Hạ Môn một số ngày”.
          c/ Biết
được sự kiện Nguyễn Ái Quốc trốn khỏi Hương Cảng là do Long tiên sinh, người
cùng đi với ông ta. Long tiên sinh có thể là Paul Draken, tuy nhiên, theo
“Nhật
ký Paul Draken”, thì về căn bản, Paul Draken (Long Bảo La) không cùng đi với
Nguyễn Ái Quốc đến
Hạ
Môn. Rõ ràng, ý kiến cho rằng Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn chính là Hồ Chí Minh đã
tìm hết cách mượn cái tên
Paul Draken để liên kết, thuyết phục mọi người
Nguyễn Ái Quốc đích thực đã trốn khỏi
Hương Cảng đến Hạ Môn.
           (Tác giả nhận định: Trong năm 1932, chỉ biết
có một người là Long tiên sinh mà không thấy có người tên là
Paul
Draken (Bảo La Đức Nhuế Khẳng, Long Bảo La), vì thế, nói rằng Nguyễn Ái Quốc đến
Hạ Môn hoàn toàn
do Hồ Chí Minh hư cấu).
6 – Long tiên sinh là Long Đình Chương hay Long Bảo La (Paul Draken)?
          Cả William
J. Duiker và cựu Đại sứ Lý Gia Trung đều viết là “Long tiên sinh cùng Nguyễn
Ái Quốc đến
Hạ
Môn”, vậy Long tiên sinh và Long Bảo La (
Paul Draken)
trong thời gian này có mối quan hệ như thế nào? Phải chăng họ chỉ là một người?
Sự kiện năm 1932 Nguyễn Ái Quốc rời khỏi
Hương Cảng là vô cùng bí mật, vì thế thân phận đích
thực của Long Bảo la (
Paul Draken) không thể nào được công khai.
          Hiện nay, hồ sơ “sự kiện Hương Cảng” của Nguyễn
Ái Quốc đã được giải mật. “Nhật ký Long Bảo La” (Paul Draken – Nguyễn
Ái Quốc) đã được xuất bản. Đối chiếu toàn bộ đầu cuối “sự kiện
Hương Cảng”, sẽ rất khó
giải thích rõ ràng việc Long Bảo La (
Paul Draken) là người
trực tiếp đưa Nguyễn Ái Quốc rời khỏi
Hương Cảng. Long tiên sinh tức Long Bảo La, tức tình
báo viên Anh Quốc
Paul Draken.
          Rất đáng tiếc, trước khi hoàn thành công trình lớn của
mình, William J. Duiker chưa biết đến “Nhật ký Long Bảo La – Nguyễn Ái Quốc”,
chưa sử dụng sự kiện Long Bảo La tham gia giải cứu Nguyễn Ái Quốc để chứng minh
sự thật là, Nguyễn Ái Quốc rời
Hương Cảng bằng thủy phi cơ đến Thượng Hải, mặc cho Hồ Chí Minh tự bịa
ra câu chuyện hoang đường “từ Hương Cảng đến Hạ Môn”.
          Từ khi
Loseby nhận làm luật sư bào chữa vụ Nguyễn Ái Quốc, Tòa Hương Cảng đã trải
qua  chín phiên xử. Viện Khu mật Hoàng
gia London đã thẩm định đơn kháng cáo của đương sự và đình chỉ vụ án,, chưa
từng nghe thấy văn phòng luật sư có một thư ký họ Long, cũng không biết tên của
người họ Long là gì. Vậy mà, đột nhiên vào thời điểm Nguyễn Ái Quốc rời Hương
Cảng đi đi Hạ Môn lại xuất hiện một Long tiên sinh và Long Bảo la. Cách nói
tình báo viên “Long Bảo la” và “Long tiên sinh” hình như
khớp nhau để tạo ra sự thật là cùng tham gia giải cứu Nguyễn Ái Quốc đào thoát
Hương Cảng. Sự kiện Long tiên sinh cùng Nguyễn Ái Quốc đến Hạ Môn và sự kiện
Long Bảo La cùng Nguyễn Ái Quốc đến Thượng Hải, người sắm vai chính của hai
trường hợp này, một là Nguyễn Ái Quốc và Long tiên sinh, một là Nguyễn Ái Quốc
và Long Bảo La . Tính chất của hai sự kiện là khớp nhau, chỉ có tên người là
không giống nhau mà thôi. Việc này giải thích rất dễ, Long tiên sinh chính là
tình báo viên Anh Quốc Paul Draken (Bảo La Đức Nhuế Khẳng), cũng chính là Long
Bảo La. Từ đó suy ra, Long Bảo La cùng đi với Nguyễn Ái Quốc  bằng chiếc thủy phi cơ bay đến Thượng Hải hạ
cánh ở bến sông Hoàng Phố là hoàn toàn đúng với sự thật lịch sử, còn nói rằng,
Long tiên sinh cùng Nguyễn Ái Quốc  đến
Hạ Môn là hoàn toàn bịa đặt.
            Sự kiện Hồ Chí Minh từ Hạ Môn đến Thượng Hải
            Đại bộ phận chuyên gia, học
giả đều trình bày và phân tích: “Đầu năm 1933, Hồ Chí Minh từ Hạ Môn đến
Thượng Hải”, chỉ có hồi ký của Long Bảo la là viết: “Đầu năm 1932,
Nguyễn Ái Quốc đi chiếc thủy phi cơ nhãn hiệu “Trân Châu Trung Quốc”
từ Hương Cảng bay đến bến sông Hoàng Phố rồi về Thượng Hải trên con thuyền
nhỏ”. Hai đoạn văn này, thời gian, nhân vật và lịch trình đều khác nhau.
Một phía là Nguyễn Ái Quốc đầu năm 1932 trực tiếp từ Hương Cảng đến Thượng Hải,
phía kia là Hồ Chí Minh, đầu năm 1933, từ Hạ Môn đến Thượng Hải. Trong khoảng
thời gian này, vấn đề mấu chốt là, thực chất có phải Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh
phổi vào mùa thu năm 1932? Và, người từ Hạ Môn đến Thượng Hải vào đầu năm 1933
là Nguyễn Ái Quốc hay Hồ Tập Chương? Rất mong
quý vị cao minh tường giải.    
          1 – Trong tác phẩm “Hồ Chí Minh ở
Trung Quốc”, trang 75, 76, giáo sư Tưởng Vĩnh Kính viết:
          Đầu năm
1933, Hồ Chí Minh từ Hạ Môn đến Hương Cảng. Lúc này tình hình ở Thượng Hải so
với thời giam năm 1930 (khi mà ông ta ở đó) hoàn toàn không giống nhau. Tổ chức
bí mật của Đảng Cộng sản Trung Quốc ở đây được thành lập từ mùa hè năm 1931 đã
bị đánh phá tan tác, do đó, vào lúc Hồ đến Thượng Hải thì không làm cách nào
liên lạc được với họ. Vừa lúc Ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Pháp là Paul
Vaillant Couturier đến Thượng Hải, Hồ lập tức viết thư nhờ Tống Khánh Linh
chuyển giúp. Vì phải lẩn tránh các nhân viên trị an nên Hồ Chí Minh đóng vai
một công tử hào hoa, thuê hẳn chiếc xe hơi sang trọng, tận tay gửi vào hòm thư
gia đình Tôn phu nhân. Mấy ngày sau, Hồ Chí Minh gặp Paul Vaillant Couturier,
hai người đi theo một liên lạc viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Sau đó, người
này bố trí cho Hồ Chí Minh xuống một chiếc tàu thủy Nga Xô, rời Thượng Hải đi
VladiVostok để đến Mạc Tư Khoa.
          Nội
dung tác phẩm “Hồ Chí Minh ở Trung Quốc” của giáo sư Tưởng Vĩnh Kính
đều dẫn nguồn từ cuốn sách “Bác Hồ” trang 67 của Hoài Thanh và Thanh
Tịnh do NXB Ngoại văn Hà Nội ấn hành năm 1962.
2 – Giáo sư Hoàng Tranh trong tác phẩm “Hồ Chí Minh và Trung
Quốc”, trang 51, 52 đã viết:
Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc
cải trang thành một thương nhân xuống tàu thủy rời Hạ Môn đi Thượng Hải. Lần
đến Thượng Hải này, so với 2 năm trước đây, tình hình rất khác nhau, mà trước
hết là, không có cách nào liên lạc được với các tổ chức của Đảng Cộng sản Trung
Quốc. Một ngày kia, Hồ Chí Minh đọc được bản tin trên báo nói rằng, Đoàn đại
biểu chống chiến tranh của phe Đồng Minh sẽ đến Thượng Hải, bèn viết một bức
thư gửi người bạn Pháp là Paul Vaillant Couturier nhờ Tống Khánh Linh chuyển
giúp. Hồ Chí Minh sắm vai một công tử hào hoa, thuê chiếc xe hơi sang trọng,
đến số nhà 29, đường
Molière,
là nơi cư ngụ của Tống Khánh Linh, tự tay bỏ thư vào hòm thư gia đình. Mấy ngày
sau, Hồ Chí Minh và
Paul Vaillant Couturier liên lạc được với nhau. Nhờ Paul Vaillant
Couturier, Hồ Chí Minh liên lạc được với tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc
tại Thượng Hải. Họ bố trí cho ông ta xuống một chiếc tàu thủy Liên Xô đi
Vladivostok, sau đó chuyển sang xe lửa về Mạc Tư Khoa.
Nội dung bhi chép của giáo sư
Hoàng Tranh đều dẫn từ bài báo “Tống Khánh Linh giúp đỡ đồng chí Hồ Chí
Minh liên lạc với tổ chức Đảng” (“Nhân dân nhật báo”, số ra ngày
6 tháng 9 năm 1981).
3 – William
J. Duiker trong “Truyện Hồ Chí Minh”, trang 210, 211viết:
          Sau khi Nguyễn Ái Quốc được Loseby gửi tiền do các bạn
Trung Quốc bên ngoài quyên góp, cuối cùng xuống một chiếc tàu thủy rời
Hạ Môn đến Thượng Hải. Vì để
tránh con mắt các nhân viên bảo an khu tô giới Pháp, Nguyễn Ái Quốc cải trang
thành một phú thương, ở trong một khách sạn sang trọng. Một người bạn nhắc
Nguyễn Ái Quốc phải đề cao cảnh giác, vì Cục Bảo an cũng có thể đặt lại vấn đề
về cái chết năm 1931 mà báo chí đã loan tin, và cho rằng, hiện tại ông ta đang
ở Thượng Hải. Trong khi ấy, cảnh sát Pháp khu tô giới ráo riết truy tìm nơi lẩn
trốn của Nguyễn Ái Quốc , đồng thời treo giải thưởng cho người cung cấp thông
tin. Từ năm 1927, chính quyền Tưởng Giới Thạch tiến hành đại khủng bố Đảng Cộng
sản Trung Quốc ở Thượng Hải. Đến năm 1931, Pháp và Anh cũng mở chiến dịch quy
mô truy bắt các phần tử cộng sản. Lúc này Đảng Cộng sản Trung Quốc đã rút vào
hoạt động bí mật, vì thế, Nguyễn Ái Quốc muốn tìm sự giúp đỡ về tài chính từ
các đồng chí ở Thượng Hải là không dễ dàng.
          Thật
may , Nguyễn Ái Quốc tìm được người bạn Ủy viên Trung ương đảng cộng sản Pháp
Paul Vaillant Couturier vừa đến Thượng Hải tham gia “Hội nghị Thế giới
đồng minh bảo vệ nhân quyền” do do quả phụ của Tôn Trung Sơn là Tống Khánh
Linh hiệu triệu, liền quyết định lợi dụng dịp này, gửi một bức thư cho Tôn phu
nhân.  Quả nhiên, sau đó không lâu,
Nguyễn Ái Quốc gặp được Paul Vaillant Couturier thông qua một liên lạc viên của
Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nguyễn Ái Quốc cải trang thành một phú thương, Paul
Vaillant Couturier bố trí cho ông ta xuống một con tàu Nga Xô đi Vladivostok.(7)
Vào một ngày xuân năm 1934, Nguyễn Ái Quốc từ Vladivostok đáp xe lửa băng qua
vùng lãnh nguyên Siberi giá lạnh đến Mạc Tư Khoa.(8)
          Tư liệu William J. Duiker sử dụng trong
phần này được dẫn từ:
          (7):
Xem Trần Đạt Nhân ” Vừa đi đường vừa kể chuyện”, trang 51, và của
Nguyễn Lương Bằng trong “Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta”.
          (8):
Dẫn từ “Hồ Chí Minh kỷ niệm văn vật” trong “Cùng Hồ thúc thúc ở
Liên xô” của Nguyễn Canh Thác.
          4 –Sophie Quinn – Judge, trong “Những năm tháng mất
tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941”, trang 197, viết:
           Nếu quả thật Hồ Chí
Minh ẩn náu ở Nam Ninh, ta có thể suy đoán ông ta ra đi vào tháng chín, bởi vì,
tháng chín năm 1933, một Ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Pháp là
Paul Vaillant Couturie đến
Thượng Hải dự “Đại hội châu Á phản đối chiến tranh”. Hồ Chí Minh nói
rằng, khi ấy đúng là Paul Vaillant Couturier đã giúp ông ta bắt được liên lạc
với tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thượng Hải rồi sắp xếp cho mình đi Mạc
Tư Khoa.
          Nội
dung Sophie Quinn – Judge tường thuật ở trên được dẫn từ “Một ngày của Bác
Hồ” của Nguyễn Lương Bằng, NXB Ngoại văn, 1961, trang 81.
9 –
Gia Trung, cựu Đại sứ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam, trong “Chủ
tịch nước Việt Nam Hồ Chí Minh “, trang 222 đến 224, viết:
          Hồ Chủ Tịch ở lại Hạ Môn không lâu, sau đó xuống thuyền đi Thượng Hải.
Một hôm, Nguyễn Ái Quốc được biết, có một đoàn đại biểu châu Âu đến thăm vùng
Viễn Đông sẽ đến Thượng Hải truyên truyền chống chiến tranh đế quốc. Trong đoàn
có một người bạn Pháp là đồng chí Paul Vaillant Couturier. Thế là, Nguyễn Ái
Quốc thuê một chiếc xe hơi sang trọng đến biệt thự của Tống Khánh Linh ở đường
Molière nhờ gia nhân chuyển đến Paul Vaillant Couturier, đề nghị giúp đỡ để
sang Liên Xô. Một ngày đầu năm 1934, một chiêc ca nô chạy đến gần con tàu  Liên Xô đang đậu ở bến cảng Thượng Hải. Hồ
Chí Minh lên tàu trở lại quê hương Lenin, cảm động nói: “Lưu lạc quê người
ba năm chẵn, trở lại gia đình dại công nông” (Lưu lạc tha hương tam niên
chỉnh, hồi đáo công nông đại gia đình).
          6 – Bảo La Đức Nhuế Khằng “Nhật ký
Long Bảo La- Ghi chép về Nguyễn Ái Quốc “.
          Tôi lên
tàu, vào buồng lái tìm thuyền trưởng, chỉ vào hải đồ, ra lệnh cho ông ta cho
tàu đến một tọa độ ngoài biển. Từ xa đã nhìn thấy chiếc “Trân Châu Hương
Cảng”, tôi liếc nhìn đồng hồ, vừa đúng giờ, liền dùng ánh đèn làm hiệu.
Anne Kennedy cũng dùng đèn hiệu đáp lại. Tôi cùng Nguyễn Ái Quốc chia tay với
vợ chồng luật sư Loseby và Phó Toàn quyền phu nhân. Trước khi chia tay, phu
nhân Loseby còn đặt trên bàn một gói điểm tâm cho tôi và Anne dùng trên đường
đi. Rời tàu, tôi và Nguyễn Ái Quốc trèo lên chiếc thủy phi cơ. Anne lập tức khở
động máy cho phi cơ cất cánh vế hướng Thượng Hải. Không lâu sau máy bay đậu
xuống bến sông Hoàng Phố, tai đây đã có một đồng chí của Nguyễn Ái Quốc chèo
thuyền đón ông ta vào thành phố.
          7 – Giải thích về sai lầm và sự thật.
          a/  Thời gian từ Hạ Môn đến Thượng Hải, phần lớn
các nhà nghiên cứu đều ghi chép là đầu năm 1933, nhưng William J. Duiker thì
cho rằng, mãi đến sau tháng chín năm 1933 Nguyễn Ái Quốc mới đến Thượng Hải căn
cứ vào hai điểm sau:
          – Tháng
chín năm 1933, Hồ Chí Minh ẩn náu ở Nam Ninh.
          – Tháng
chín năm 1933, Paul Vaillant Couturier đến Thượng Hải tham gia “Đại hội
châu Á phản dối chiến tranh”.
          Ý kiến
của William J. Duiker dẫn từ nguồn
“Hồ sơ Quân đội viễn
chinh Pháp Quốc thuộc bộ phận hải ngoại”, ngày 5 tháng chín năm 1933, do
Ba Tùng Uy(1) ký, số hiệu 394.
William J. Duiker đã lấy thời gian ký vào hồ sơ làm cơ
sở suy luận, vậy thì chính xác phải là trước tháng giêng năm 1933. Còn giả
thiết tháng chín năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được Paul Vaillant Couturier giúp đỡ
để rời Thượng Hải chỉ là câu chuyện hư cấu.
          Từ các
nguồn tư liệu trên, có thể phán đoán, Hồ Chí Minh đầu năm 1933 từ Hạ Môn đến
Thượng Hải không phải nhầm lẫn, có điều ông Hồ này tuyệt đối không phải là
Nguyễn Ái Quốc .
          b/ Cứ
coi Hồ Chí Minh tức là Nguyễn Ái Quốc mà nói, hành trình của Nguyễn Ái Quốc từ
Hương Cảng qua Hạ Môn để đến Thượng Hải rồi đi Mạc Tư Khoa sẽ phát sinh mâu
thuẫn về thời gian.
          – Vì cớ
gì Nguyễn Ái Quốc không trực tiếp từ Hương Cảng đi Thượng Hải, liệu có phải ông
ta đang mắc bệnh trầm trọng? Vì sao lại phải chịu đựng trăm cay ngàn đắng cả
một năm rồi mới đến Hạ Môn? Vì sao lại phải ngụy tạo ra nửa năm dưỡng bệnh ở Hạ
Môn làm cho sự việc trở nên rắc rối?
         
Nguyễn Ái Quốc chẳng đã tuyên bố tại Thượng Hải là vô cùng túng bấn, vì sao vẫn
lưu lại một năm? Có phải đơn giản chỉ là đợi Paul Vaillant Couturier đến giải
cứu? Một năm ở Thượng Hải Nguyễn Ái Quốc làm gì? Vì sao kéo dài đến mãi đầu năm
1934 mới rời Thượng Hải? Những lý do được ngụy tạo để giải thích là rất khiên
cưỡng, khó thuyết phục người đọc. Chỉ có một khả năng giải thích là, cuộc hội
kiến cới Paul Vaillant Couturier chính là để liên kết giữa Hồ Chí Minh và
Nguyễn Ái Quốc, nhằm hóa giải nghi án về cái chết của ông ta , chứng minh,
người năm 1933 có mặt tại Thượng Hải chính là Nguyễn Ái Quốc. Cho nên, đã trót
ngụy tạo ra chuyện hoang đường, đến lúc có nguy cơ bị bóc trần, bất đắc dĩ
người ta lại phải hư cấu ra một chuyện hoang đường khác, tuy nhiên, cuối cùng
sự thật vẫn bị bóc trần.
          – Nếu
nói Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, thì nguyên nhân Hồ Tập Chương trở lại Thượng
Hải rất không đơn giản là chỉ có một mục đích. Mùa hè năm 1931, nhân vụ việc
Noulens, sau khi rời khỏi Hương Cảng, qua gần hai năm sống lưu vong cùng khổ,
sau này , thấy tình hình yên ắng, Hồ Tập Chương mới trở lại làm việc trong
” Công hội Thái Bình Dương Thượng Hải”.
          Trở lại
sự kiện sau khi đến Thượng Hải hai năm, Hồ Tập Chương phát hiện ra, tổ chức
Quốc tế cộng sản nơi này đã hoàn toàn tan rã. Các cơ quan của Trung Cộng đều
rút vào hoạt động bí mật. Ông ta trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, không
thể trở về cơ quan công tác cũ mà cũng chẳng bắt liên lạc được cới Đảng Cộng
sản Trung Quốc nên đã nảy ra ý định đi Mạc Tư Khoa. Chính vì thế Hồ Tập Chương
phải nhờ đến Tống Khánh Linh. Để giữ bí mật, Hồ thuê một chiếc xe hơi sang
trọng đến tư dinh Tống phu nhân, số nhà 29, đường Molière, gửi một phong thư
vào hòm thư gia đình, hy vọng Tống Khánh Linh giúp đỡ sẽ liên lạc được với Đảng
Cộng sản Trung Quốc để đi Mạc Tư Khoa. Còn như việc nhờ làm trung gian để gặp
Paul Vaillant Couturier chỉ là sự bịa đặt.
          c – Sự
kiện Paul Vaillant Couturier có liên quan đến thời gian Hồ Chí Minh rời khỏi
Hương Cảng, vì thế, sẽ là một bước tiến làm sáng tỏ vụ việc. Để hoàn thành vở
kịch “dời hoa tiếp cây”, người ta đã ngụy tạo ra sự kiện Hồ Chí Minh
gặp mặt Paul Vaillant Couturier nhằm đạt hai mục đích:
          – Chứng
thực người ở Thượng Hải vào năm 1933 là Nguyễn Ái Quốc.
          – Xóa
bỏ thông tin chết do bệnh lao phổi vào mùa thu năm 1932.
          Chỉ có
điều cố tình kéo dài thời gian đến khi trở lại Mạc Tư Khoa là hoàn toàn mâu
thuẫn. Bởi lẽ, vào mùa xuân năm 1933, Hồ Tập Chương đã đi Mạc Tư Khoa, làm sao
có thể hội kiến với người bạn Pháp Paul Vaillant Couturier? Rõ ràng việc ngụy
tạo đến tháng chín năm 1933, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) mới rời khỏi Thượng
Hải là không phù hợp về thời gian. Paul Vaillant Couturier đến Thượng Hải tham
gia “Hội nghị thế giới yêu hòa bình, phản đối chiến tranh” vào ngày
30 tháng chín năm 1933 (xem: Tống Khánh Linh truyện, quyển thượng, Istaael
Epstein viết, Thẩm Tô Nho dịch, trang 373).
           Về phía Hồ Tập Chương mà nói, lúc ấy không hề
quen biết Paul Vaillant Couturier, vì thế cũng không thể có cuộc gặp mặt giữa
hai người. Sự việc ông ta thuê xe đến nhà Tống Khánh Linh với việc Paul
Vaillant Couturier đến Thượng Hải dự hội nghị chẳng liên quan gì với nhau. Mùa
hè năm 1931, Hồ Tập Chương vì bị liên quan đến vụ Noulens nên phải trốn khỏi
Hương Cảng đến Quảng Châu, từng bị Quốc dân đảng truy đuổi đã lẩn trốn ở Quế
lâm, Điền Châu vùng biên giới Thailand, đến mùa xuân năm 1933 mới từ Thailand
qua Hạ Môn về Hương Cảng (xem Thiên III “Sự kiện Hồ Tập Chương bị truy
đuổi ở Quảng Châu”). Ở lại Hạ Môn một thời gian, biết được Tống Khánh Linh
đang vận động thành lập “Hội bảo vệ nhân quyền Trung Quốc” để nỗ lực
giải cứu vợ chồng Noulens và các tù nhân chính trị Trung Quốc, Hồ bèn đến
Thượng Hải. Nhưng tại đây, ông ta không làm cách nào trở về được nơi công tác
cũ, cho nên phải cần đến sự giúp đỡ của “Hội bảo vệ nhân quyền…”
thông qua Tống Khánh Linh để về Cục Phương Đông Quốc tế cộng sản ở Mạc Tư Khoa.
          Vì thế,
sự thật được phơi bày. “Hồ Chí Minh về căn bản không yêu cầu sự trợ giúp
của Paul Vaillant Couturier”. Vào đầu năm 1933, ông ta rời khỏi Thượng Hải
đến Mạc Tư Khoa. Dự đoán thời gian Hồ Tập Chương đến Mạc Tư Khoa là vào mùa he
năm 1933.
            Bộ phim “Nguyễn Ái Quốc thoát hiểm ở Hương Cảng.
            Lần đầu tiên hai nước
Trung-Việt hợp tác sản xuất bộ phim về Nguyễn Ái Quốc. Tên phía Trung Quốc đặt
là “Thoát hiểm ở Hương Cảng” còn Việt Nam gọi là “Nguyễn Ái Quốc
ở Hong kong” do Hội Điện ảnh Việt Nam và Công ty liên hợp Điện ảnh Châu
Giang hợp tác sản xuất, phát hành. Phim được khởi quay vào cuối năm 2002, đến
ngày 1 tháng chín năm 2003 chiếu duyệt lần đầu tại Trung tâm Chiếu phim quốc
gia Việt Nam. Giá thành phim là 15 tỷ đồng Việt Nam (ước khoảng 8 triệu NDT),
phát hành bằng  tiếng Việt, tiếng Trung
và tiếng Anh.
           Nội dung phim miêu tả đầu những năm ba mươi
của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc bị bắt giữ, bị thẩm vấn rồi được giải cứu khỏi
nhà giam. Phim có nhiều đoạn cao trào, gay cấn, sinh động. “Nguyễn Ái Quốc
ở Hong kong” khắc họa Nguyễn Ái Quốc vào những năm 1931 – 1932 như một
nhân vật thần bí, có những đoạn quá cường điệu, nhất là cảnh các đặc công ẩn
trong lòng đất, tiến hành  giải cứu vô
cùng thông minh, quả cảm. Với mục đích tuyên truyền, họ đã đẩy câu chuyện đến
mức bất chấp sự thật lịch sử. Các nam nữ diễn viên và những pha tình cảm luyến
ái chẳng qua là để làm trò câu khách. Rốt cuộc, những chuyện tình ái mùi mẫn do
các nhà biên kịch, đạo diễn hư cấu không phải là sự thực trong tình yêu và hôn
nhân của Nguyễn Ái Quốc. Ngược lại, sự kiện Nguyễn Ái Quốc bị trọng bệnh tử
vong đã được báo chí dưa tin, lại bị các nhà làm phim ỉm đi. Rõ ràng bộ phim
Việt- Trung hợp tác sản xuất này chỉ nhằm hướng tới mục đích chính trị, hoàn
toàn không phải đi tìm sự thật lịch sử.
           Từ bộ phim ” Nguyễn Ái Quốc ở Hong
kong”, nhìn lại hiện thực lịch sử qua vụ án Nguyễn Ái Quốc, tôi đề xuất
một bản kết luận giản lược như sau:
          (1) –
Vào lúc 2 giờ sáng ngày 6 tháng sáu năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hương
Cảng bắt.
          (2) –
Từ ngày 1 tháng  tám năm 1931 đến ngày 19
tháng chín năm 1931, trải qua chín phiên xử, tòa án Hương Cảng phán quyết giải
Nguyễn Ái Quốc về Việt Nam.
          (3) –
Ngày 12 tháng 12 năm 1931, luật sư Loseby gửi đơn kháng cáo lên Viện Khu mật
Hoàng gia London, Anh Quốc.
          (4) –
Cuối năm 1931, luật sư hai bên hoàn thành một thỏa hiệp, Khu mật viện Hoàng gia
London, Anh Quốc quyết định trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc.
          (5) –
Ngày 28 tháng 12 mười hai năm 1931, Nguyễn Ái Quốc được chính phủ Hương Cảng
phóng thích và hứa để tự do xuất cảnh.
          (6) –
Ngày 6 tháng giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc xuống tàu di
Singapore
nhưng không được
nhập cảnh, phải trở lại Hương Cảng.
          (7) –
Ngày 19 tháng giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc buộc phải quay lại Hương Cảng, bị
cáo buộc vi phạm điều lệ nhập cảnh, lại bị câu lưu.
          (8) –
Ngày 22 tháng giêng năm 1932, nhà cầm quyền bất chấp điều lệ nhập cảnh, hạn
trong 3 ngày, Nguyễn Ái Quốc phải rời khỏi Hương Cảng.
          (9) –
Ngày 25 tháng giêng năm 1932, Nguyễn Ái Quốc lên chiếc thủy phi cơ đi Thượng
Hải, sau đó mất dấu vết.
          (10) –
Mùa thu năm 1932, báo chí Cộng sản lần lượt đưa tin Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh
lao phổi.
          (11) –
Đầu năm 1933, Hồ Tập Chương từ Thailand về Hạ Môn rồi đi Thượng Hải.
          (12) –
Mùa xuân năm 1933, Hồ Tập Chương từ Thượng Hải đi Mạc Tư Khoa.
          (13) –
Đầu năm 1934, Vera Vasilieva, thuộc Quốc tế cộng sản phụ trách các vấn đề Việt
Nam, yêu cầu Hồ Tập Chương thay thế thân phận Nguyễn Ái Quốc tiếp tục thực hiện
cuộc vận động cách mạng Việt Nam, buộc Hồ Tập Chương phải thực hiện chương
trình giáo dục cải tạo 5 năm tại Mạc Tư Khoa. Như vậy, cùng với lãnh đạo chóp
bu Trung Cộng và Việt Cộng, Mạc Tư Khoa đã phối hợp, từng bước đạo diễn vở kịch
“Nguyễn Ái Quốc chết mà sống lại” thực hiện âm mưu xảo trá “tráo
rồng đổi phượng”, “dời hoa tiếp cây”.
          Phụ lục
          “Nhật ký Long Bảo La” (trích
đoạn).
          “Tôi
rất biết ngài có đủ kinh nghiệm”. Tiên sinh M. trong bức điện báo cuối
cùng đã viết thêm một câu như vậy. Tôi nghĩ lại, đại khái là vào năm 1924 đã
cùng Trương đại soái ra Thanh Đảo, tận mắt nhìn thấy ông ta ra đi, và năm 1928,
có tham gia vào vụ giúp công chúa Anna
Anastasia trốn thoát đến
nước Mỹ. Quả thật là đã làm phiền. Tôi đọc bức điện báo mà …chảy nước bọt, vì
lúc ấy, ông ta đã được phía London đồng ý, chỉ đợi tôi trực tiếp ra lệnh, do đó
tôi tìm mọi cách, trong một thời gian ngắn phải đến được Hương Cảng. Lúc này,
tàu thuyền các công ty đều không thể phối hợp, ngoại trừ chiếc thủy phi cơ
“Trân Châu Trung Quốc”. Tôi đã gửi điện tín hỏi Anne, vừa lúc cô ta
rất vui khi biết sẽ cùng tôi đồng hành. Buổi sáng ngày thứ hai chúng tôi bay
đến Hương Cảng. Tại đây, việc đầu tiên là phải tìm gặp ngay tổ tình báo để nắm
rõ tình hình, phát hiện Nguyễn Ái Quốc thực tế đã được Tòa án Hương Cảng xếp
vào loại chính trị phạm, đã tuyên án nhưng không phải dẫn độ về An Nam. Ông ta
hiện chỉ lưu lại
Hương
Cảng một thời gian ngắn, rồi lập tức bị buộc xuất cảnh. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc
lên một chiêc tàuf khách Anh Quốc để rời Hương Cảng nhưng  bị phía
Singapore buộc phải
quay lại. Có tin chính phủ Pháp đã cử sát thủ đến
Hương Cảng nên cảnh sát không
thể không giam Nguyễn Ái Quốc vào ngục.
          Cảnh
sát Hương Cảng rất cần một người có khả năng bí mật dưa Nguyễn Ái Quốc xuất
cảnh an toàn, vì thế họ nhờ MI6 giúp đỡ. Thời kỳ ấy cảnh sát và MI5 cùng thuộc
hệ thống nội chính, có quan hệ với nhau mật thiết, còn chúng tôi thuộc bộ phận
ngoại giao của MI6, trái lại, thường có mâu thuẫn. Năm trước, khi bắt giữ
Nguyễn Ái Quốc, nói thẳng ra là cảnh sát tham công, đã không biết nhìn sự việc
xa hơn, tự tiện hành động, đến nỗi xẩy ra sự cố “nướng khoai bỏng
tay”, bây giờ mới quay về tìm MI6. Vì thế, các điệp viên của tình báo
Hương Cảng rất không muốn tham gia vào vụ này. Tuy nhiên, đây cũng là lúc tôi
được lệnh của tiên sinh M. từ Thượng Hải đến Hương Cảng xử lý công việc. Rốt
cuộc nhiệm vụ lại rơi xuống đầu tôi. Thật là tự mình đâm đầu vào tròng. Nghĩ
tới những tình huống phức tạp này, trong đầu tôi mới lờ mờ nghĩ đến mối quan hệ
giữa tiên sinh M. và Toàn quyền Hương Cảng. Tuy vậy lại không có bất cứ đầu mối
nào nên tôi phải tự mình thăm dò Nguyễn Ái Quốc. Việc này không đơn giản. Ông
ta bị giam giữ ở một nơi cực kỳ bí mật mà ngay cả các luật sư biện hộ cũng
không được gặp mặt thân chủ, bởi lẽ, về lý mà nói, ông ta đã bị trục xuất khỏi
Hương Cảng, không còn liên quan gì đến chính quyền sở tại. Yêu cầu cảnh sát
giúp đỡ việc này là vô nghĩa. Thông qua một nguồn tin riêng, cuối cùng tôi cũng
đến được nơi giam giữ Nguyễn Ái Quốc, thậm chí còn kéo được cả luật sư Loseby
đi cùng.
          Biện hộ
cho Nguyễn Ái Quốc  là luật sư Loseby,
chủ tịch Công hội luật sư Hương Cảng, rất có năng lực và kinh nghiệm. Ông ta
thu thập chứng cứ, biện giải đanh thép, nên qua chín phiên xử, Tòa án Hương
Cảng phải chấp nhận luận điểm Nguyễn Ái Quốc là một phần tử bất đồng chính
kiến, mà không bị dẫn độ về An Nam chịu mức án tử hình.
Tôi
và Nguyễn Ái Quốc gặp nhau trong căn hầm của Tổng bộ cảnh sát. Ông ta là một
người trung niên thân hình ốm yếu, mắc bệnh phổi, xem tình hình sức khỏe không
tốt. Nguyễn Ái Quốc biết  tiếng Hoa và tiếng
Pháp nên chúng tôi có thể nói chuyện được với nhau: “Tôi là Paul Draken, đại
diện Bộ Ngoại giao Anh Quốc – tôi nghĩ, chẳng cần để lộ mối quan hệ của tôi với
MI6 nên nói tiếp – được cử đến đây giúp đỡ tiên sinh xuất cảnh, xin hỏi, ngài định
đi đến nơi nào?”. Nguyễn Ái Quốc uể oải trả lời trong khi vẫn không dứt
cơn ho: “Tôi muốn đến Liên Xô”. “Liên Xô? Vậy thì tốt nhất ngài
nên qua lối
Thượng
Hải – tôi nói tiếp – tôi sẽ cùng đi Thượng Hải với tiên sinh, đến đó ngài sẽ tự
quyết định nơi đi tiếp”. Luật sư Loseby lo lắng hỏi: “Ngưới Pháp đã
cử sát thủ đến Hương Cảng, vậy làm sao có thể đảm bảo an toàn cho Nguyễn tiên
sinh xuất cảnh?”. Cả hai chúng tôi đều liếc mắt về phía cảnh sát trưởng.
Ông ta bảo: “Tôi đã biết ý tứ của các ngài. Chúng tôi có thể bắt giữ sát
thủ Pháp, chỉ ngại chẳng may bí mật bị lộ, chính phủ làm sao giải thích được
với nước Pháp? – Cảnh sát trưởng vốn là tay cáo già, lõi đời xua tay thoái thác
– Chỉ đề nghị các ngài tìm được biện pháp xuất cảnh an toàn, tôi sẽ rất vui
được thuận nước giong thuyền, tuy nhiên, phải nói trước, vạn nhất sự việc vỡ
lở, tôi sẽ không thừa nhận, lúc đó sẽ đắc tội với chính quyền địa phương, mong
các ngài thông cảm”.
          Ra khỏi
trụ sở Tổng bộ cảnh sát, Loseby lớn tiếng chửi Cảnh sát trưởng là tên xảo trá,
tôi chợt nảy ra một kế hoạch khác. Loseby vốn rất quen thân với Toàn quyền
Hương Cảng, nếu được ông ta đứng ra giải quyết vụ này, có thể xem đấy là lá bùa
hộ mệnh, sẽ tránh được sự thất bại do ý đồ phản thùng của Cảnh sát trưởng. Nghĩ
vậy, tôi bèn đóng giả làm khách của Toàn quyền William Peel, sau đó sẽ sử dụng
chiếc thủy phi cơ “Trân Châu Hương Cảng” (China Pearl) của Anne
Kennedy bay đến Thượng Hải. Tôi đem ý kiến này trình bày với Loseby. Ông cảm
thấy có thẻ thành công bèn phân công nhau chuẩn bị hành động.
          Anne
Kennedy và phu nhân Loseby mới gặp nhau mà đã như quen biết từ lâu. Hai người
hẹn nhau đi dạo và uống trà vào buổi trưa. Tôi tranh thủ đến bên Anne, nói là
có một nhiệm vụ bí mật cần cô giúp đỡ. Nghe xong, Anne vô cùng thích thú. Quen
biết Anne đã nhiều năm, đây là lần đầu tiên tôi đề nghị cô tham gia vào một
nhiệm vụ mạo hiểm. Tôi cũng nói vài lời để Anne yên tâm rồi thông báo thời
gian, địa điểm và ám hiệu, hẹn giữa trưa ngày thứ hai cho máy bay đến đợi sẵn
ngoài biển.
          Loseby
cũng mời Phó Toàn quyền phu nhân xuống ca nô uống trà sau 12 giờ trưa. Hiện tại
chỉ còn một việc là làm thế nào đưa được Nguyễn Ái Quốc từ nhà giam ra một cách
an toàn. Tôi đồ rằng, thời điểm này, các sát thủ Pháp đã lảng vảng khắp nơi, vì
vậy, vào lúc giữa trưa, tôi ăn mặc như một giáo sư đại học bước vào Tổng bộ
cảnh sát. Nội vụ đã được Cảnh sát trưởng thỏa thuận. Ông ta nói không cản trở
nhưng cũng không giúp đỡ. Tôi đến ngay phòng giam đề nghị Nguyễn Ái Quốc nhanh
chóng thay trang phục. Tôi cũng mặc quần áo đã chuẩn bị sẵn từ trước, cùng ông
ta thong thả bước ra khỏi cửa chính Tổng bộ cảnh sát. Lúc ấy Loseby đã bố trí
một chiếc xe cùng đội bảo vệ đến đón. Chúng tôi lại thay đổi y phục. Lần này
Nguyễn Ái Quốc mặc bộ lễ phục sang trọng, còn tôi đóng bộ đồ trung úy hải quân
trong vai phó quan, cùng lên chiếc xe hơi sang trọng ra bến cảng rồi xuống tàu.
          Hành
trình hết sức thuận lợi, tuy rằng lúc ấy mọi việc phải thật khẩn trương. Loseby
phu nhân và Phó Toàn quyền phu nhân vốn quen nhau từ trước, nên cuộc gặp mặt
hết sức vui vẻ. Bàn trà được bày sẵn trên boong. Loseby nhanh chóng cùng Nguyễn
Ái Quốc xống khoang tàu. Tôi đến buồng máy gặp thuyền trưởng và chỉ vào hải đồ
ra lệnh cho tàu chạy đến tọa độ X ngoài biển. Từ xa đã nhìn thấy “China
Pearl” đậu tại vị trí dự định. Tôi nhìn dồng hồ, thấy đã đến giờ bèn dùng
đèn đánh tín hiệu. Anne cũng dùng ánh đèn đáp lại. Chiếc xuồng được hạ thủy.
Chúng tôi chia tay vợ chồng Loseby và Phó Toàn quyền phu nhân. Bà Lose by còn
gửi theo gói đồ điểm tâm cho ba người. Chúng tôi vừa bước lên “China
Pearl” thì Anne dã cho máy bay chạy trên biển rồi bay vụt lên. Trên đường
đi tôi đã thử nói chuyện với Nguyễn Ái Quốc nhưng có vẻ như ông ta không muốn
đáp lời. Đối với người Anh hình như ông không mấy thiện cảm, cho dù chúng tôi
đã làm hết cách để cứu tính mệnh ông, nhưng vẫn không làm thay đổi được quan
niệm của người An Nam này coi chúng tôi là tay sai của chủ nghĩa đế quốc phương
Tây.
          Chiếc
thủy phi cơ “China Pearl” hạ cánh xuống bãi sông Hoàng Phố, tại đây
những đồng chí của Nguyễn Ái Quốc đưa thuyền ra đón ông. Nhiệm vụ của tôi đến
đây là xong. Nghe nói sau này Nguyễn Ái Quốc đi Mạc Tư Khoa vào học ở trường
Đại học Lenin với mục tiêu về nước tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, vận động
nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc. Tôi có cảm giác quá trình hoạt động
này có thấp thoáng hình bóng của M. tiên sinh…
                             THIÊN II
Ve sầu thoát xác, thật giả
kiếp người
     Thời gian và vũ đài hoạt động trùng nhau
K
hoảng thời gian từ năm 1929 đến năm 1933, Nguyễn Ái
Quốc và Hồ Tập Chương mỗi người có một công tác riêng tại vùng duyên hải đông
nam Trung Quốc và Thailand, Malaysia,
Singapore…, lần lượt
thay nhau xuất hiện. Đặc biệt vào năm 1930, Nguyễn Ái Quốc và
Hồ Tập Chương đã cùng ở trong
Ban trù bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Mùa hè năm 1931, Nguyễn Ái Quốc và
Hồ Tập Chương đồng thời bị bắt ở Hương Cảng và Quảng Châu. Những hoạt động qua
lại của hai người rất không rõ ràng, cũng không được lưu trữ trong hồ sơ nên
rất khó chứng minh. Năm 1934, Hồ Tập Chương được trao nhiệm vụ thay thế thân
phận Nguyễn Ái Quốc đã bị chết vào tháng tám năm 1932, tiếp tục hoạt động. Vì
thế, toàn bộ sự tích cuộc đời Hồ Tập Chương sau này là phải bắt chước làm sao
cho giống với phong cách sinh hoạt và làm việc thường ngày của Nguyễn Ái Quốc,
nhằm ráp nối cho khớp, mà sự kiện đầu tiên là “Từ Hạ Môn đi Thượng
Hải”.
          Tuy
nhiên từ tháng tám năm 1932 đến đầu năm 1933, có nửa năm là thời gian khống,
nên người ta đã ngụy tạo ra sự kiện Nguyễn “Ái Quốc lưu lại Hạ Môn nửa năm
dưỡng bệnh”. Tiếp nữa là, đầu năm 1933, sau khi đã đến Thượng Hải, lại một
lần nữa bắt người ta phải tin vào “giả thuyết
Paul
Vaillant Couturier” nhằm hóa giải cái chết của Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên,
ngụy tạo ra thời gian từ mùa xuân năm 1934 Nguyễn Ái Quốc đi Mạc Tư Khoa lại nảy
sinh nhứng ý kiến khác nhau. Tóm lại, khoảng thời gian từ 1929 đến 1933, đem
hành trạng của Nguyễn Ái Quốc và hành trạng của Hồ Tập Chương gộp vào cho một
người, tất nhiên sẽ nảy sinh mâu thuẫn. Cho nên, bịa đặt ra những chuyện không
có thật trong lịch sử, giống như cây kim bọc trong giẻ, đến một ngày nào đó, sự
thật sẽ được phơi bày.
                 Cùng lên vũ đài, một ẩn một hiện
Tháng
giêng năm 1949, tạp chí “Sinh hoạt
nội bộ
” kỳ thứ 13 của Việt Nam có đăng tải một bài viết nhan đề “Đảng ta” do
Hồ Chí Minh viết dưới bút danh
Trần Thắng Lợi. Nhà xuất bản Chính
trị Quôc gia đã đưa “Đảng ta
vào Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5,
trang 547. Trong “Đảng ta
có một đoạn nói rất rõ ràng như sau:
Cuối
năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai
hội ở Hương Cảng.
Trong
7, 8 đại biểu,
ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi
, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí
Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho
Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám
(Tác giả nhận định, nguyên Văn
“Tản Anh” là viết tắt của Lê Tản Anh. Hồi ký cách mạng “Giọt
nước trong biển cả” của Hoàng Văn Hoan, trang 4 có đoạn viết về Lê Tản Anh
là thành viên sáng lập nhóm “Tâm tâm xã”).
Đọc đến đoạn văn xác thực này,
tôi như muốn nhảy dựng lên. Tại làm sao mà trong một tập san chính thức của nhà
nước lại xuất hiện câu văn: “đồng
chí Nguyễn Ái Quốc và tôi
“. Câu văn này há chẳng khẳng định, Nguyễn Ái
Quốc và Hồ Chí Minh là hai người khác nhau đó sao? Năm 1929, Nguyễn Ái Quốc và
Hồ Chí Minh cùng tham gia tổ chức Hội nghị Hương Cảng ? Lúc mới đọc, tôi cho
rằng có sự nhầm lẫn khi viết, sau đọc đó đọc đi đọc lại nhiều lần, rà soát cẩn
thận từng chữ, và đi đến kết luận là hoàn toàn không có chuyện nhầm lẫn làm tôi
đặc biệt quan tâm.
          Trở về
tra xét lại thời kỳ 1929, 1930 trong bối cảnh thành lập Đảng Cộng sản, mới phát
hiện ra sự thật là Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương là những người cùng tham gia
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Để tránh hiểu lầm chuyện trích dẫn, cắt xén,
tôi xin dẫn nguyên văn từng câu, từng chữ của đoạn văn trên:
     Năm
1929
(chính xác là ngày 19 tháng giêng năm 1929),
trong khi đồng chí Nguyễn ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng
chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức
đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về.
Sau
đó, trong nước dần dần thành lập ba nhóm cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An
Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản Liên đoàn.
Một
nước mà ba đảng cộng sản. Cả ba nhóm đều ngầm hiểu như thế là sai. Quần chúng
đều hiểu rằng như thế là không đúng. Cả ba nhóm đều tìm cách để đi đến thống
nhất. Nhưng bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo, cho nên càng muốn gần nhau,
lại càng xa nhau.
Cuối
năm 1929, đồng chí Nguyễn ái Quốc trở lại Tàu
(chính xác là
ngày 20 tháng giêng năm 1930)
, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương
Cảng.
Trong
7, 8 đại biểu
,(1) ngoài đồng chí Nguyễn ái Quốc và tôi,
nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh
và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước
ngày Cách mạng Tháng Tám.
Để
giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá
banh, vừa bàn bạc về Đảng.
Sau
cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn ái
Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng.
Thế
là Đảng ta chân chính thành lập
…”.
          Câu văn
“Ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay
chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và
vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày
Cách mạng Tháng Tám”
bao hàm ý nghĩa gì? Vì sao Hồ Chí Minh lại
viết câu này? Qua nhiều lần suy nghĩ kết hợp với việc tra cứu hồ sơ, tài liệu
“Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, tôi mới hiểu, thực ra, lúc ấy Hồ
Chí Minh chỉ kể lại một cách chân thật quá trình thành lập Đảng mà không hề có
ẩn ý gì bên trong. Xét về mặt nội dung, câu văn trên biểu thị ba ý nghĩa sau:
          1 – Vào
năm 1930, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là 2 trong số 7, 8 đại biểu sáng lập
Đảng Cộng sản Việt Nam.
          2 -Vào
năm 1949 khi Hồ Chí Minh viết bài “Đảng ta”, về mặt công khai, ông
còn chưa thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, vì thế, vô tình đã hạ bút viết
“Nguyễn Ái Quốc và tôi”. Việc này trong “Truyện Hồ Chí
Minh” của
William J. Duiker, trang 449 đã viết rất rõ
ràng: “Sau hai mươi năm giấu giếm thân phận, hiện tại Hồ Chí Minh 67 tuổi,
cuối cùng ông cũng thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, để rồi các phương tiện
truyền thông chính thức của nhà nước ra sức ca ngợi ông như một người suốt đời
hy sinh vì lý tưởng cách mạng, phục vụ tổ quốc”. Tiếp đó, tác giả lại viết:
“Trước đây, Hồ Chí Minh chưa thừa nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, vì vào năm
1946, khi triệu tập Hội nghị Quốc dân đại hội, Bộ trưởng Lao động Nguyễn Văn
Thái có đề nghị vinh danh Hồ Chí Minh là “công dân số một” của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa. Bởi lẽ, lúc ấy thân phận Hồ Chí Minh chưa được xác nhận là
Nguyễn Ái Quốc. Hồ
Chí Minh chính là Hoa kiều tại Việt Nam, đảng viên
Đảng Cộng sản Việt Nam, phái viên “Quốc tế cộng sản” được cử đến
Việt Nam với nhiệm vụ thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Quốc dân đại hội biểu dương sự cống hiến của ông, đồng thời ban tặng danh hiệu
“người công dân số một”. Nếu quả thật Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc
cùng là người Việt Nam, liệu còn có động tác giấu đầu hở đuôi “người công
dân số một” này không?
          3 –
Trước sau năm 1930, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng làm việc ở Cục Phương
Đông Thượng Hải thuộc
Quốc tế cộng sản. Hai người thường qua lại Hương Cảng và Thượng Hải. Lúc
ấy Hồ Chí Minh là phái viên của Cục Phương Đông
Quốc tế cộng sản
đến hoạt động ở
Hương
Cảng. Vậy thì người mang tên Hồ Chí Minh không phải Nguyễn Ái Quốc này là ai?
Ông ta chính là phái viên
Quốc tế cộng sản Hồ Tập Chương, thành viên tham
gia Ban trù bị thành lập
Đảng Cộng sản Việt Nam, được các yếu nhân của Trung cộng và Việt cộng hết
sức giữ bí mật. Nhân vật vào tháng bảy năm 1931 bị Quốc dân đảng bắt giam tại
nhà lao Quảng Châu là Hồ Tập Chương, sau đó , đến năm 1934, ông được
Quốc
tế cộng sản chỉ thị thay thế thân phận Nguyễn Ái Quốc.
          Chú thích (1):  Bảy vị đại biểu tại Hội nghị gồm Hồ Tập
Chương là phái viên liên lạc của Quốc tế cộng sản, đương nhiên đứng đầu danh
sách, tuy nhiên tài liệu ghi chép danh sách không thể tìm thấy, có khả năng đã
bị sửa chữa hoặc giấu đi. Chỉ biết, sau khi thành lập Đảng, có 7 (bảy) vị Ủy
viên Trung ương. Căn cứ vào các tư liệu lịch sử còn lại, bảy Ủy viên là: Nguyễn
Ái Quốc, Hồ Tùng mậu, Trịnh Đình Cửu, Lê Tản Anh, Trần Văn Cung, Lê Hồng Sơn và
Hồ Tập Chương.
            Ngày thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam
             Từ ngày 1 đến 19 tháng năm năm 1929, Đại hội đại biểu
toàn quốc “Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí hội” do Lam Đức Thư
khởi xướng tổ chức tại Hương Cảng. Mới vào hội nghị đã xẩy ra xung đột nghiêm
trọng giữa các phe phái. Các đại biểu Bắc Kỳ đề nghị thành lập Đảng Cộng sản
Đông Dương. Lam Đức Thư và Lê Hống Sơn do chưa có kế hoạch chuẩn bị thành lập
chính đảng nên đã cự tuyệt đổi tên “Đồng chí hội”. Các đại biểu Bắc
Kỳ là Trần Văn Cung, Nguyễn Tuấn, Ngô Gia Tự… giận dữ bỏ hội nghị về nước.
Hôi nghị tuyên bố tan vỡ.
          Ngày 17
tháng sáu năm 1929, Bắc Kỳ tuyên bố thành lập “Đảng Cộng sản Đông
Dương”. Sau khi Hồ Tùng Mậu và Hoàng Bộ Quân bị khai trừ khỏi “Đồng
chí hội”, tháng mười cùng năm, Nam Kỳ thành lập “An Nam Cộng sản
đảng”. Tân Việt đảng của Trung Kỳ cũng chuyển thành “Đông Dương Cộng
sản liên đoàn” vào tháng giêng năm 1930.
          Ngày 20
tháng giêng năm 1930, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm La về đến Quảng Châu. Hồ Tùng Mậu
cử phái viên đón ở Hương Cảng. Sau khi bắt liên lạc được với Đảng Cộng sản
Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc đề nghị đại diện ba tổ chức cộng sản đối lập ở Việt
Nam đến Hương Cảng hợp nhất thành một chính đảng. Từ ngày 3 tháng hai đến ngày
7 tháng hai năm 1930, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị thống nhất các tổ chức
cộng sản tại một phòng nhỏ trong khu lao động Cửu Long, sau đó lại được chuyển
xuống một căn hầm bên dưới trụ sở câu lạc bộ bóng đá. Các đại biểu nhận đều nhận
thấy những bất đồng của ba tổ chức cộng sản dẫn đến sự xung đột nghiêm trọng
vừa qua, nên sau đó đã chấp hành chỉ lệnh của
Quốc tế cộng sản,
hợp nhất ba tổ chức thành
Đảng Cộng sản Việt Nam.
            Bệnh phổi trầm trọng, sức khỏe suy giảm
            Sau khi thành lập Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đang dự kiến thành lập “Liên đoàn Thanh niên
cách mạng” tại Quảng Châu thì bị bãi miễn. Sự kiện này chứng tỏ, sau khi
tân chính đảng hình thành, Nguyễn Ái Quốc tỏ ra không có khả năng lãnh đạo
phong trào cách mạng.Ý chí hăm hở tiêu tan dần theo năm tháng, địa vị lãnh đạo
lung lay mà nguyên nhân chủ yếu là tình trạng sức khỏe. Lúc này
Quốc
tế cộng sản cũng không còn xem Nguyễn Ái Quốc là lãnh đạo duy nhất. Những năm ấy,
lưu học sinh Việt nam được Quốc tế cộng sản dày công đào tạo tại Liên Xô, rất
được chú trọng.
          1- Đầu tháng chín năm 1928, Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng
chí hội đã có sự chuyển bến về tư tưởng sau Hội nghị VI Quốc tế cộng sản. Lúc ấy,
Nguyễn Ái Quốc ở Xiêm La, mắc bệnh lao phổi trầm trọng, gần như mất hẳn liên lạc
với Quốc tế cộng sản và Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Năm 1930,
Nguyễn Ái Quốc thông báo với Ngô Đức Trị là ông ta đang ở Xiêm La, bị bệnh hơn
một năm. Từ tháng bảy đến tháng chín, Nguyễn Ái Quốc viết 6 bức thư gửi Cục Viễn
Đông, trong bức thư đề ngày 2 tháng chín, ông giải thích, từ ngày 13 tháng tám
đã hoàn toàn suy sụp bởi bệnh lao phổi, thường xuyên ho ra máu. Nói cách khác,
vì tình trạng sức khỏe không tốt, cứ mỗi ngày, Nguyễn Ái Quốc lại xa dần quyền
lực.
          2 – Năm 1929, Quốc tế cộng sản đã trì hoãn lâu ngày kế hoạch
thành lập
Đảng
Cộng sản Đông Nam Á, chuyển sang quyết nghị thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương.
Ngày 27 tháng mười năm 1929,
Quốc tế cộng sản ra “Chỉ thị công tác Đông
Nam Á”, giao cho nhóm lưu học sinh vừa tốt nghiệp Học viện Stalin là Trần
Phú và Ngô Đức Trị trở lại Việt Nam thực hiện “Nhiệm vụ cấp bách của đảng
viên cộng sản Đông Nam Á”. Ở phần phụ lục “Vấn đề kỹ thuật” của
“Chỉ thị công tác” đã ghi rõ: “Trong nhiệm vụ của Đông Nam Á, nhất
định phải dưa đồng chí Trần Phú và đồng chí Ngô Đức Trị vào cương vị lãnh tụ. Đồng
chí Trần Phú làm chủ tịch là phù hợp, ưu tiên đồng chí Ngô Đức Trị”.
          3 – Cuối tháng 12 năm 1930, vì nhiệm vụ và quyền hạn của
Nguyễn Ái Quốc không được xác định, ông liền gửi một bức thư đến Quốc tế cộng sản
yêu cầu phải dược trao quyền lãnh đạo rõ ràng. Thư viết: “Hiện nay tôi
không biết chức vụ của mình như thế nào. Tôi đang là Ủy viên Trung ương mà tự
nhiên lại trở thành đảng viên thường. Phải chăng Quốc tế cộng sản đã đình chỉ
chức vụ, và giờ đay tôi chỉ là nhân viên của Cục Viễn Đông phải không? Rất mong
được các đồng chí giải thích”.
            Cùng tên nên có sự nhầm lẫn
            Thời
gian từ năm 1929 đến năm 1933, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương cùng hoạt động
trên vũ đài chính trị, đặc biệt vào năm 1930 và nửa đầu năm 1931, hai người từng
nhiều lần qua lại làm việc với nhau.      Sở
dĩ vào sau năm 1934, Quốc tế cộng sản có ý đồ lấy Hồ Tập Chương thay thế thân
phận Nguyễn Ái Quốc, là bởi vì vào những năm 1929 đến năm 1933, hầu hết những
hoạt động của Hồ Tập Chương đều mang tên
Hồ Chí Minh. Do đó mọi việc Hồ
Tập Chương làm đều được hiểu một cách sai lầm là của Nguyễn Ái Quốc. Tuy nhiên,
khi thẩm định kỹ các đoạn tư liệu ghi chép về hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, nếu
không thật chú ý, sẽ rất khó làm rõ được chỗ nào là thuộc về Nguyễn Ái Quốc, chỗ
nào thuộc về Hồ Tập Chương. Ví dụ như, vào tháng sáu năm 1931, cảnh sát
Hương Cảng bắt giữ Nguyễn Ái
Quốc tại một căn phòng số nhà 186, phố Tam long, Hương Cảng, tìm được một tấm
hộ chiếu dán ảnh Hồ Chí Minh. Bản hộ chiếu này đương nhiên không phải của
Nguyễn Ái Quốc mà là của Hồ Chí Minh . Nếu không thì việc gì phải nói “hộ
chiếu dán ảnh Hồ Chí Minh” mà là “tìm được một hộ chiếu dán ảnh
Nguyễn Ái Quốc” chẳng phải là rõ ràng sao? Huống hồ, bí danh Hồ Chí Minh
này, mãi dến năm 1942 mới có. Rốt cuộc Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Ái Quốc,
Hồ
Tập Chương là Hồ Tập Chương, hai người hoàn toàn không phải là một. Nội dung
đăng ký hộ chiếu càng nói rõ không thể là Nguyễn Ái Quốc. Tấm hộ chiếu ghi
“công dân Trung Quốc, đến Thailand quan hệ công tác, thời hạn 6 tháng, do
Lãnh sự quán Trung Quốc ký.
          Căn cứ vào tấm ảnh Hồ Chí Minh trong hộ chiếu, sẽ biết rõ vào khoảng
trước, sau năm 1930, tất cả những gì
Hồ Tập Chương viết và
làm đều bị hiểu là của Nguyễn Ái Quốc. Từ năm 1929 đến năm 1931, Hồ Tập Chương
là phái viên của Quốc tế cộng sản tại Cục Phương Đông tham gia hoạt động thành
lập Đảng Cộng sản ở Việt Nam, Thailand, Malaysia cùng nhiệm vụ như Nguyễn Ái Quốc
và hai người đã nhiều lần làm việc với nhau. Tuy nhiên, những tài liệu ghi chép
về thời kỳ này lại chỉ ghi danh
Hồ Chí Minh. Do vậy, công tác của Hồ
Tập Chương
bị cố
ý ẩn giấu hoặc chuyển dịch sang cho Nguyễn Ái Quốc, vì thế, trong tất các hồ sơ
còn lại đều không có tên
Hồ Tập Chương.
          Hiện nay, căn cứ theo Sophie Quinn – Judge trong “Những năm tháng mất
tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941”, chương 5, “Cao trào cách mạng
1930-1931”, tham chiếu với những tài liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh
trong thời kỳ này, tôi đã tiến hành phân tích và tách được những ghi chép về
hoạt động của
Hồ Tập Chương, kết qủa cho thấy, Nguyễn Ái Quốc
Hồ Chí Minh
không phải là một người. Hoạt động của họ, thời kỳ 1929-1933 là tương hỗ theo
kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”(nguyên văn “mũ ông Trương, ông
Lý đội”). Xin dẫn ra một số tài liệu dưới đây để so sánh, đối chiếu:
1 – Mùa thu năm 1928, Bí thư
thứ nhất Chi bộ
Quốc tế cộng sản Cục Viễn Đông tại Thượng Hải quyết định thành
lập tổ chức “Liên minh các dân tộc phương Đông bị áp bức”. Trụ sở
Liên minh đặt tại Singapore, trực tiếp lãnh đạo các tổ chức cộng sản Đông Nam Á
và Bán Đảo Đông Dương. Malaysia, Indonesia, Myanmar, Thailand và Việt Nam đều
trực thuộc cơ quan này. (Dẫn từ
William J. Duiker,
trong “Truyện Hồ Chí Minh”,
trang 161)
          2 – Ngày 12 tháng mười một năm 1929, tiến hành hội nghị thảo
luận tái lập Đảng Cộng sản Nam Dương (Indonesia). Quốc tế cộng sản hầu như
không giải thích được khái niệm vị trí địa lý của vùng Nam Hải Trung Quốc (vùng
biển phía nam Trung Quốc). Người Châu Âu thuộc Cục Viễn Đông cho rằng Singapore
nằm giữa Ấn Độ và Indonesia, thuộc quyền quản lý của Cục Trung Đông, cho nên
Kuusinen (của Quốc tế cộng sản) mới xem Singapore là khu vực Ấn Độ và Indonesia
làm mục tiêu công tác. (Tác giả nhận định: Nhà tưởng niệm Chủ tịch
Hồ Chí Minh  tại Hà Nội có một bản sơ đồ điều tra thực địa
ngày 3 tháng ba năm 1930, vẽ giản đồ vùng phụ cận giữa Singapore và bán đảo Mã
lai kèm theo chú giải bằng tiếng Hoa và tiếng Anh, ký tên Mục Hàm. Căn cứ vào
bút tích tiếng Anh cùng những chứng cứ tra cứu được, bản sơ đồ này, chính là do
Hồ Tập Chương vẽ.
          Lúc ấy, Nguyễn Ái Quốc đang ở Xiêm La chữa bệnh lao phổi,
thời gian vừa đúng một năm. Hơn nữa, đây cũng là lúc giữa Nguyễn Ái Quốc và Quốc
tế cộng sản đã hoàn toàn mất liên lạc, chưa từng được Quốc tế cộng sản giao nhiệm
vụ công tác, nên không thể có khả năng qua lại vùng Bán đảo Mã Lai điều tra thực
địa vẽ sơ đồ. Từ tấm sơ đồ có thẻ xác dịnh những dòng chữ tiếng Anh không phải
bút tích Nguyễn Ái Quốc , cũng chưa bao giờ thấy ông có bí danh Mục Hàm ký trên
các văn bản).
          Nguồn dẫn:. Sophie Quinn – Judge trong “Những năm tháng mất tích của Hồ Chí
Minh, 1911-1941”, trang 148. Phần phụ lục kèm theo sơ đồ Vùng phụ cận Bán
đảo Mã Lai Á của Mục Hàm và Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh thân bút bằng tiếng
Anh.
                         
            3 – Đầu năm 1930, Rylski báo
cáo, khu vực Nam Dương, Đông Nam Á của
Cục Viễn Đông đang thiếu
người liên lạc, hầu như chỉ trông chờ vào các đồng chí Trung Quốc mà không có
biên chế riêng để phái đến Đông Dương chỉ đạo. Thibault và Quốc tế cộng sản
cũng đã mất liên lạc. Vì thế, chúng tôi quyết định cử đồng chí
Hồ Chí Minh đảm nhiệm công tác
liên lạc, đồng thời giao một số công việc, tiếp tục hoạt động ở trong nước. Hồ
Chí Minh sẽ có phương pháp làm việc hiệu quả và rất có thể sẽ tìm được nguyên
nhân Thibault bị mất liên lạc. Mặt khác Mạc Tư Khoa cử Ryski hay Eisler đều
không biết Trung văn nên rất khó làm việc. (Tác giả nhận định: Vào năm 1930,
trình độ Nguyễn Ái Quốc nghe, nói, đọc và viết Trung văn là kém, không thể làm
công việc phiên dịch tiếng Trung. Nguồn dẫn từ Sophie Quinn – Judge trong “Những
năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941”, trang 148 và 162).
4 – Ngày 27 tháng mười năm
1929,
Quốc tế cộng sản gửi một bức thư đến ban lãnh đạo An
Nam cộng sản đảng tại
Hương Cảng, nói đến việc phái viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc đến
truyền đạt chỉ thị. Ngày 16 tháng mười hai năm 1929, Hồ Tùng Mậu dẫn một phái
viên
Quốc tế cộng sản đến Hương Cảng. Vị phái viên này thông báo, Đông
Dương cộng sản đảng, An Nam cộng sản đảng và Đông Dương cộng sản liên đoàn đều
chưa chấp nhận thành lập Đảng Cộng sản, vì thế không được
Quốc
tế cộng sản công nhận. Cho đến trước khi hợp nhất ba tổ chức cộng sản, khu vực
Đông Nam Á vẫn chỉ được coi là một đoàn thể của chủ nghĩa Marx dưới sự chỉ đạo
của Quốc tế cộng sản. (Tác giả nhận xét: Vị đại biểu Trung Quốc, phái viên Quốc
tế cộng sản chính là Hồ Tập Chương. Thân phận Hồ Tập Chương lúc ấy, ngoài việc
là phái viên Quốc tế cộng sản được cử đến hoạt động ở Đông Dương, còn là đảng
viên
Đảng Cộng
sản Trung Quốc. Nguồn dẫn từ:
William J. Duiker, trong “Truyện Hồ Chí
Minh”-  trang 161).
          5 – Năm 1930, “Liên minh mậu dịch Thái Bình Dương” tại Vladivostok
lập ra một cơ quan chuyên trách.
Hồ Chí Minh được Cục Viễn Đông tại Thượng Hải điều động đến công
tác, mở một khóa huấn luyện tuyên truyền 3 tháng cho các Hoa kiều tại Việt nam
là Lê Quảng Đạt, Hồ Tùng Mậu và vợ là Lý Phương Thuận. (Tác giả nhận xét: Năm
1930, Nguyễn Ái Quốc đã có thâm niên mười năm là đảng viên cộng sản, vả lại,
năm 1924, ông ta dã được học một khóa huấn luyện của
Quốc
tế cộng sản ở Đại học Phương Đông Mạc Tư Khoa, nên không có nhu cầu giáo dục ngắn
hạn. Trong khi ấy, Hồ Tập Chương mới đến công tác tại “Liên minh mậu dịch
Thái Bình Dương”, rất cần tham gia khóa học này. Nguồn dẫn từ
Sophie Quinn – Judge trong
“Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941”, trang 162).
          6 –
Tháng tư năm 1930,
Cục Viễn Đông gửi đi một bức thư không ký tên,
nói là sẽ có một đồng chí Trung Quốc “nhận chỉ thị của chúng tôi” đến  Singapore tham gia Đại hội Đảng Cộng sản
Malaysia. Tháng tư năm 1930 Ủy viên Đoàn Chủ tịch Phương Nam lâm thời Ngô Gia Tự
được biết, một vị đại biểu Trung Quốc thuộc Cục Viễn Đông, được được phái từ
Thượng Hải đến
Singapore, giữa đường đã ghé qua Sài Gòn. Vị đại biểu này cho rằng,
Đảng Cộng sản Việt Nam trực
thuộc
Cục Viễn Đông
là không hợp lý. Đây chính là điều ông phản đối.
          (Tác
giả nhận định: Nguyễn Ái Quốc rất tích cực chủ trương đảng Cộng sản trực tiếp
chịu sự chỉ đạo của
Cục Viễn Đông, trong khi ấy, vị phái viên Trung
Quốc này lại chủ trương các đảng cộng sản vùng Đông Nam Á lại trực thuộc Bí thư
xứ Singapore. Rõ ràng hai quan điểm này là bất dồng. Vị đại biểu Trung Quốc ấy
chính là Hồ Tập Chương. Nguồn dẫn từ
Sophie Quinn – Judge trong “Những năm tháng mất
tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941”, trang 162, 164).
          7 –
Tháng tư năm 1930, khai mạc lần thứ nhất “Hội nghị Liên minh Trung Quốc
phản đối chủ nghĩa đế quốc”. Các đại biểu gồm Ấn Độ, Hàn Quốc, Nam Dương,
Đài Loan, Đông Nam Á, Trung Quốc. Liên minh sẽ đặt trụ sở ở
Singapore. Hồ Chí Minh cũng có khả năng
tham gia hội nghị này.
          (Tác
giả nhận định: Ông Hồ Chí Minh này chính là
Hồ Tập Chương. Nguồn dẫn từ Sophie Quinn –
Judge trong “Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941”,
trang 167).
          8 –
Ngày 18 tháng năm năm 1930, Eisler và Bespalov gửi văn bản đến cơ quan bí thư
Cục Phương Đông, nội dung là cử Hồ Chí Minh đến
Singapore tham dự Hội nghi Malaysia
cùng với việc lựa chọn đại biểu đi Mạc Tư Khoa tham gia “Hội nghị Quốc tế
Lao động đỏ” lần thứ V. (Tác giả nhận định, Hồ Chí Minh này chính là
Hồ
Tập Chương, phụ trách công tác liên lạc, tuyên truyền vận động giai cấp công
nhân. Nguồn dẫn từ
 Sophie Quinn – Judge trong “Những năm
tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941”, trang 168).
          9 –
Tháng sáu năm 1930, Ban Bí thư Cục Phương Đông cử một đại biểu đi Xiêm La thúc
giục Xiêm La ủy viên hội (do các đảng viên Trung Quốc thành lập), kết hợp với
số đảng viên Đông Bắc bộ Việt Nam thành một chi bộ đảng. (Tác giả nhận định, vị
phái viên mà Cục Phương Đông cử đến Xiêm la chính là
Hồ
Tập Chương
 mà không phải là Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Ái
Quốc vào cuối tháng ba năm1930 đã đến Bangkok thông báo với kiều dân Việt Nam
về việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời cũng theo dõi việc thành
lập Đảng Cộng sản Thailand. Khoảng thời gian này, cả Nguyễn Ái Quốc và
Hồ
Tập Chương
đều
được
Quốc tế cộng sản giao phó nhiệm vụ. Có một tài liệu nằm
trong văn kiện “Nghiên cứu lịch sử nước Nga hiện đại” là “Báo
cáo tình hình phổ biến của Xiêm La”, nguyên văn bằng tiếng Trung, không ký
tên. Căn cứ vào nội dung mà phán đoán , thì bản báo cáo này do Hồ Tập Chương viết.
Trước năm 1930, Nguyễn Ái Quốc chưa  thể
đủ trình độ để viết những báo cáo trường thiên đại luận bằng Hoa ngữ, cũng chưa
từng thấy ông dùng Trung văn trong bất cứ văn kiện nào. Nguồn dẫn từ
Sophie Quinn – Judge trong
“Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1911-1941”, trang 169.
          10 –
Thời gian 1930 – 1931, căn cứ vào quyển thứ 3 trong “Hồ Chí MInh toàn
tập”, Các báo cảo gửi
Quốc tế cộng sản, nguyên văn bằng tiếng Anh, tiếng
Pháp và tiếng Trung . Đối với văn kiện bằng tiếng Anh, những bài trường thiên đại
luận, chính xác là đều do Hồ Tập Chương viết. Trong đó, hai bản báo cáo đề ngày
5 tháng ba năm 1930 (liên quan đến tình hình vận động cách mạng ở Việt Nam), và
ngày 20 tháng chín năm 1930 (vận động cách mạng Đông Dương), cũng có thể khẳng
định là do Hồ Tập Chương viết.
          Hãy lấy bản báo cáo liên quan đến tình hình vận động cách mạng
ở Việt nam để chứng minh. Bản báo cáo này không ký tên ( chữ ký hẳn đã bị Quốc
tế cộng sản xóa), nguyên văn bằng tiếng Anh, dùng ngôi thứ ba, gồm 8 trang,
trình bày từ lúc thực dân Pháp bắt đầu xâm lược Việt Nam đến phong trào Cần
vương, phong trào Đông du và quá trình vận động quần chúng Bắc Kỳ, Trung Kỳ,
Nam Kỳ đấu tranh chống Pháp. Nội dung bài viết, bút pháp so sánh với Nguyễn Ái
Quốc khác nhau rất xa. Đặc biệt, tác giả còn nhận định: “Các phần tử trí
thức Việt Nam không ngừng vượt trùng dương theo tổ chức đảng do một vị hoàng
thân làm chủ tịch và một vị đại văn hào làm tổng thư ký, hy vọng sẽ được Nhật Bản
giúp đỡ”. Đoạn văn này được ghi chép vô cùng kỳ lạ, rõ ràng không phải do Nguyễn
Ái Quốc viết. “Hoàng thân” ở đây là chỉ thân vương Cường Để, còn
“đại văn hào” chính là Phan Bội Châu, lúc ấy là thủ lĩnh của phong
trào Đông du. Tuy nhiên, những danh từ “chủ tịch”, “tổng thư
ký”, “đại văn hào”…vào thời điểm những năm 1930, Nguyễn Ái Quốc
đều không thể sử dụng, đơn giản là vì lúc ấy nó chưa phổ biến. Hơn nữa, không
ít lần người viết dùng từ “An Nam” là một danh xưng  khá miệt thị do thực dân Pháp gọi người Việt
Nam.
          Tôi đã nghiên cứu kỹ mới phát hiện ra, cách xưng hô này,
lúc ấy là thông dụng đối với người Nhật Bản. Hồ Tập Chương là người Đài Loan, rất
am hiểu văn hóa Nhật nên mới dùng  nhân
xưng ngôi thứ ba để viết báo cáo. Tuy nhiên, tôi dám chắc, bản báo cáo đã bị cắt
xén. Nguyên văn ở sau hàng thứ ba xuất hiện một tiểu chú thích, lại là chú
thích (7) mà không có chú thích (1) đến (6). Bản báo cáo có tất cả 13 tiểu chú
nhưng không có nội dung kèm theo, từ đó, tác giả phán đoán, bản báo cáo không
phải do Nguyễn Ái Quốc viết, mà người viết chính là Hồ Tập Chương, bút danh Mục
Hàm.
          Từ hai bản báo cáo trên, ta có thể thấy rõ, Hồ Tập
Chương  đã từng có mối quan hệ rất mật
thiết với
Đảng
Cộng sản Việt Nam.
          11- Tại
Long Châu, Quảng Tây vào năm 2005, Nhà triển lãm Hồ Chí Minh tiếp tục mở cửa.
Trên tường trái trước cửa là khối đá hoa cương màu hồng nhạt khắc những dòng
chữ khải, giới thiệu tóm tắt địa chỉ cơ quan bí mật của Cách mạng Việt Nam tại
Long Châu. Nội dung đặc biệt đề cập vào đầu năm 1931, các nhà cách mạng Việt
Nam, lấy danh nghĩa buôn bán, đã thuê phòng thiết lập cơ quan Cách mạng Việt
Nam bí mật. Những người thường xuyên làm việc ở đây chủ yếu là lãnh tụ Hồ Chí
Minh và các Ủy viên Thường vụ Trung ương, trong đó có Hoàng Văn Thụ, Lý Như
Đông…
          Ngày 27
tháng mười hai năm 2006,  nhật báo Quảng
Tây đăng một bài viết của phóng viên Lý Vĩ Đông phỏng vấn Nông Nhị đại tẩu là
vợ Nông Nhân Bảo. Nông Nhân Bảo từng là Hoa kiều tại Việt nam. Nhị đại tẩu là
người Việt. Nội dung bài viết đề cập đến cuối năm 1930, tại nhà Nông Nhân Bảo,
Hồ Chí Minh và Hoàng Văn Thụ lập cơ sở liên lạc Cách mạng Việt Nam. Lúc ấy Hồ
Chí Minh đã có dược điều kiện thuận lợi để triển khai hoạt động, lại được Nông
Nhân Bảo giới thiệu đến làm việc tại một quán rượu ở đường Bạch Sa khoảng nửa
năm. Sau khi Hồ Chí Minh rời Long Châu đến Hương Cảng, việc liên lạc ở đây đều
do Hoàng Văn Thụ đảm nhiệm.
          Một bài
viết khác vào ngày 9 tháng mười hai năm 2006, phỏng vấn Tô Thúy Phúc là vợ Nông
Kỳ Chấn. Bà Tô Thúy Phúc năm nay đã 99 tuổi nhưng vẫn hoàn toàn minh mẫn. Bà
hướng về chúng tôi kể lại tình hình công tác lúc ấy của Hồ Chí Minh ở nhà mình:
“Năm 1930, khởi nghĩa Long Châu thành lập Hồng Bát quân, Nông Kỳ Chấn được
cử làm tiểu đội trưởng Nông dân xích vệ quân. Không lâu, Hồng Bát quân rút khỏi
Long Châu. Cấp trên thông báo là, Nông Kỳ Chấn tạm rút vào hoạt động bí mât, chờ
đợi thời cơ. Một thời gian sau, ông ấy trở về làm hương trưởng Long Châu. Chức
hương trưởng chỉ là cái vỏ bên ngoài, thực chất bên trong là liên lạc viên của
Đảng Cộng sản. Năm ấy, sau khi  trạm liên
lạc bí mật được thành lập, Hồ Chí Minh lấy nhà Nông Kỳ Chấn làm điểm dừng chân.
Để che mắt người ngoài, ông nói Hồ Chí Minh là người bà con từ quê ra giúp việc
đồng áng. Hồ Chí Minh giỏi việc nhà nông, từ cho gà lợn ăn đến giã gạo, gánh
lúa, cày bừa ruộng đều làm được”.
Theo những bài báo trên, rõ
ràng cho thấy cuối năm 1930 đến tháng sáu năm 1931, Hồ Chí Minh và các đồng chí
của ông đã hoạt động ở Long Châu thuộc khu vực biên giới Việt Trung. Vì thế, vị
Hồ Chí Minh này không thể là Nguyễn Ái Quốc. Căn cứ theo thời gian hoạt động,
địa bàn hoạt động, thì lúc ấy, Nguyễn Ái Quốc đang “chu du” ở Hương
Cảng.  Cũng vào thời kỳ này, Nguyễn Ái
Quốc và Nguyễn Thị Minh Khai đang yêu nhau thắm thiết, cho nên, không thể bí
mật hoạt động ở Quảng Tây.
Hồ sơ Hồ Tập Chương bị
bắt ở Quảng Châu
Vào lúc 2 giờ sáng ngày 6
tháng sáu năm 1931, Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hương Cảng bắt giữ. Nguyên nhân
bị bắt là, một đảng viên Cộng sản tên là Serge Lefrance của Ban bí thư Công hội
Thái Bình Dương, đã tiết lộ bí mật
Cục Viễn Đông có liên
quan đến Nguyễn Ái Quốc.
Việc Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng đã trở thành một sự kiện quốc tế
được báo chí đưa tin, sau này lại còn được làm thành phim, hầu hết công chúng
đều biết. Thế nhưng, việc Hồ Tập Chương thì ngược lại, hoàn toàn bí mật. Vì có
liên quan đến vụ Noulens nên các thành viên của tổ chức “Công hội Thái
Bình Dương” trực thuộc
Quốc tế cộng sản, đều bị truy bắt, phải bỏ Thượng Hải chạy
về
Quảng Châu,
cuối cùng Hồ Tập Chương bị đặc vụ Quốc dân đảng bắt được vào mùa hè năm 1931.
Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương
Cảng và Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu, về thời gian, địa điểm, nội dung sự
việc rất giống nhau, rất dễ để liên kết từ hai thành một. Đương nhiên với sự ẩn
giấu của Trung cộng, người đời chỉ biết sự kiện “Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở
Hương Cảng” mà không hề biết đến “Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng
Châu”, thậm chí còn đem hai sự kiện khác nhau gộp lại làm một. Như trên đã
nói, liên quan đến việc Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu, chưa từng thấy báo
chí đưa tin, lại càng không được ghi chép ở bất cứ hồ sơ nào. Cho đến năm 2000,
khi tập “Hồi ký Trịnh Siêu Lân” được xuất bản, độc giả  mới biết đến sự kiện này:
          “Mùa
hè năm 1931, Phó Đại Khánh ở nhà giam Quảng Châu gặp Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh
nhờ Phó Đại Khánh chuyển lời đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc tìm cách giải
cứu”. (Xem thêm: “Lịch sử và hồi ức- Ghi chép cuối đời của Trịnh Siêu
Lân”, quyển 2 “Truyện Phó Đại Khánh”, hoặc tham khảo “Hồi
ức Trịnh Siêu Lân”, trích yếu như phụ lục 2 của tác giả).
Sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở
Quảng Châu, trước và sau Trịnh Siêu Lân (Truyện Phó Đại Khánh), chưa có bất cứ
tờ báo nào đưa tin, thậm chí còn bị ngoa truyền lầm lẫn sang sự kiện Nguyễn Ái
Quốc bị bắt ở Hương Cảng. Tuy nhiên, gia đình chúng tôi lại biết khá rõ qua tin
đồn. Ước khoảng vào năm 1932, Hồ Tập Chương có gửi người bạn một số tiền về Đài
Loan giao cho người nhà, đồng thời thông báo để các bậc phụ huynh biết là ông
đang bị giam giữ ở Quảng Châu. Nhiều năm sau, một người anh họ lại đưa cho tôi
tấm ảnh Hồ Tập Chương rồi bảo: “bị trói gô cổ, chân xích, tay cùm”
làm tôi vô cùng ghi nhớ. Nay đối chiếu với bài báo “Phía dưới Nam Sơn dằng
dặc” có một thiên bình luận của Trịnh Siêu Lân trong “Truyện Phó Đại
Khánh”, đã đủ để chứng minh Hồ Chí Minh quả thực đã bị bắt ở Quảng Châu.
Chỉ vì người đời nhầm lẫn từ “Phùng Kinh” thành “Mã Lương”
(tự dạng các chữ Hán phồn thể này khá giống nhau), nên đã đem Hồ Chí Minh và
Nguyễn Ái Quốc đồng nhất thành một người, rồi viết báo, viết tiểu sử, in ấn
phát hành rộng rãi, khiến cho ” Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hương Cảng'”
và “Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng Châu” bị hiểu lầm thành cùng một sự
kiện.
            Những ghi chép về sự kiện Hồ Chí Minh bị bắt ở Quảng
Châu
Mùa hè năm 1931, Hồ Tập Chương
bị bắt ở Quảng Châu, Đảng Cộng sản Trung Quốc tát nhiên biết rõ chuyện này. Tuy
nhiên, vì có liên quan đến Nguyễn Ái Quốc, nên các hồ sơ của vụ này đều được
giấu đi. Mặt khác, cũng có thể, hai sự kiện cùng xẩy ra thời gian  , tính chất khá giống nhau, nên bị coi là
cùng một vụ việc mà không chú ý đến những khía cạnh khác.
           Đối chiếu với “Mối tình nồng thắm giữa Hồ
Chí Minh và Lâm Y Lan” của Lương Ích Tân, “Hồi ký Trịnh Siêu
Lân”, cùng với “Đài Loan nhật nhật tân báo” ngày 12 tháng mười
một năm 1938, thì thấy các tư liệu trong cả ba công trình nghiên cứu này đều
khẳng định sự kiện Hồ Tập Chương bị bắt ở Quảng Châu là có thật, đồng thời cũng
chứng minh ông là người thuộc sắc tộc Khách Gia quê quán Miêu Lật, Đài Loan:
“Năm 1931, Hồ Tập Chương trốn đến Quảng Châu, bị bắt giam trong một thời
gian ngắn”. Năm 1946, Ngô Trọc Lưu có xuất bản cuốn tiểu thuyết bằng tiếng
Nhật “Hồ Chí Minh”, đã viết về sự kiện này như sau: ” Vào nửa
đêm, Hồ Chí Minh bị cảnh sát bắt đưa đến một gian phòng kín thẩm vấn, sau đó
gán tội danh gián điệp và bị giam giữ”. Ngô Trọc Lưu miêu tả Hồ Chí Minh
bị bắt giữ chính là Hồ Tập Chương. Biết tin này, người em ruột của ông là Hồ
Tập Dưỡng đã thông báo cho gia tộc biết, Đó chính là người đến từ Miêu Lật,
Đồng La, Đài Loan, từng được truyền khẩu trong ký ức của gia đình chúng tôi.
        Lương Ích Tân viết về sự kiện Hồ Chí
Minh bị bắt ở Quảng Châu
            “Mối tình nồng
thắm giữa Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan” của Lương Ích Tân, ở mục “Đảng sử
thiên địa”, đăng tải tại nguyệt san số 12 “Nhân dân văn trích”,
năm 2004. Trong thiên V nhan đề “Bài ca buồn về tình yêu và hôn
nhân”, tôi đã tường thuật tóm tắt những sự việc có liên quan đến mối tình
của Hồ Chí Minh và Lâm Y Lan.
Trong “Mối tình nồng thắm giữa Hồ Chí Minh
và Lâm Y Lan”, Lương Ích Tân, ở phần “Lẩn trốn bị truy bắt ở Quảng
Châu”, viết: “Đầu năm 1930, Tưởng Giới Thạch điều quân truy bắt Hồng
quân khu Giang Tây Tô, đồng thời ra mệnh lệnh các địa phương khẩn trương tìm
bắt các phần tử cộng sản. Dương Thành Quảng Châu cũng không ngoại lệ. Thời kỳ
này Hồ Chí Minh đã đến Quảng Châu, thông qua liên lạc viên, nhờ Tỉnh ủy Quảng
Đông giúp đỡ. Tỉnh ủy bí mật Quảng Đông, do Đào Chú Làm bí thư, bố trí nữ đảng
viên Lâm Y Lan đóng giả làm vợ để bảo vệ ông khỏi bị bắt”. Tiếp theo mục
“Lâm Y Lan chấp hành mệnh lệnh làm vợ”, tác giả tường thuật:
“Lâm Y Lan làm công tác bảo vệ Hồ Chí Minh tại Quảng Đông, Hương Cảng, lấy
danh nghĩa là vợ chăm sóc Hồ Chí Minh rất chu đáo. Không lâu sau, do bị phản
bội, Hồ Chí Minh bị bắt”. Tiếp đến “Trong hoạn nạn biết tấm lòng
thành”, đoạn văn kể: “Ba ngày sau, Hồ Chí Minh được ra khỏi nhà giam,
Lâm Y Lan nhìn đăm đăm vào gương mặt hốc hác của Hồ Chí Minh nói: ‘ Chí Minh,
huynh khổ sở quá! Vì sao không đợi muội đến đón?”. Theo những lời Lương
Ích Tân kể trên, hẳn là đã quá rõ ràng, Hồ Chí Minh, vào mùa hè năm 1931, bị
Quốc dân đảng Quảng Châu bắt giữ.
 Ngô Trọc Lưu ở
Đài Loan và trường thiên tiểu thuyết “Hồ Chí Minh
            Ngô Trọc Lưu được vinh danh là
“Người cha của nền văn nghệ Đài Loan”, vào năm 1946, “Đài Loan
quốc hoa thư tịch” đã xuất bản bộ tiểu thuyết “Hồ Chí Minh” của
ông bằng tiếng Nhật (Ảnh bìa 1 phía dưới).
 Nhan đề cuốn
sách là “Hồ Chí Minh”, sau được đổi thành “Hồ Thái Minh”,
khi được chuyển sang Trung văn lại đổi là “Đứa con côi châu Á”. Bản
“Hồ Chí Minh” bằng tiếng Nhật, Ngô Trọc Lưu đã viết lời nói đầu,
trong đó có đoạn làm người ta tỉnh ngộ: “Thế giới ngày nay lại biến thành
màu xám, nếu như muốn tìm tòi tận gốc của nó, không nhất thiết phải sợ hãi
những sự thật đã bị ẩn giấu. Chúng ta đòi hỏi lịch sử phải được minh bạch. Cần
phải xem việc lẩn tránh sự thật chính là xuyên tạc lịch sử. Vì thế chúng ta
nhất dịnh phải tìm hiểu sự thật trong quá khứ mới mong có được lời giải”.
          “Hồ
Chí Minh” là bộ tiểu thuyêt được viết trong bối cảnh lịch sử Thế chiến thứ
hai, khởi thảo năm 1943, hoàn thành năm 1945, bối cảnh là thời kỳ Đài Loan bị
Nhật chiếm đóng. Thời kỳ ấy, bất cứ nhà văn nào cũng không dám lấy hiện trạng
lịch sử đương đại để viết tiểu thuyết, tuy nhiên, nếu chỉ dùng hình ảnh có tính
ẩn dụ miêu tả thì vẫn được phép.
          Ở bản
Trung văn “Đứa con côi châu Á”, thiên thứ ba có các chương:
“Xuân lành”, “Giam cầm”, Vượt ngục” v.v…có chen lẫn
những đoạn Hồ Chí Minh trốn khỏi Quảng Châu và Mối tình nồng thắm với Lâm Y Lan
đều là những bằng chứng lịch sử. Viết tiểu thuyết “Hồ Chí Minh”, hẳn
Ngô Trọc Lưu đặc biệt có ẩn ý là bảo tồn tư liệu lịch sử, chứng minh Hồ Tập
Chương là người Đài Loan, cũng chính là Hồ Chí Minh. Trong “Hồ Chí
Minh”, các chi tiết đan xen nhau mà phần lớn kể những chuyện cũ về gia tộc
Hồ Tập Chương. Trước đây, Ngô Trọc Lưu và Hồ Tập Chương rất quan biết nhau, sau
này ông cùng với em trai Hồ Tập Chương là Hồ Tập Dưỡng, cháu rể Hồ Tập Chương
là La Lộc Xuân có mối quan hệ rất thân mật. Những người này, trước sau đều là
bạn đồng học trường Đại học Sư phạm Đài Bắc. vào khoảng năm 1943, sau khi Ngô
Trọc Lưu biết tin Hồ Tập Chương đổi tên thành Hồ Chí Minh, trong đầu chợt nảy
ra ý tưởng viết cuốn tiểu thuyết này để bảo tồn một thời kỳ bí mật của lịch sử.
          Ảnh
trên: “Người cha của văn nghẹ Đài Loan” Ngô Trọc Lưu, viết năm 1946.
Bìa tiểu thuyết “Hồ Chí Minh”, bản tiếng Nhật, do “Đài Loan quốc
hoa thư tịch” xuất bản, gồm 4 thiên.
(Còn
tiêp}

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: