Phỏng vấn Gene Sharp – học giả hàng đầu về đấu tranh bất bạo động

Phỏng vấn Gene Sharp –
                học giả hàng đầu về đấu tranh bất bạo động
Đối Thọai chuyển ngữ
Từ năm 1960 đến nay, Gene Sharp đã viết hàng chục 
cuốn sách bàn về phương thức đấu tranh bất bạo động

 

Đng lên bng cách nào?
Sự kiện gia đình nông dân họ Đoàn tại Tiên Lãng, Hải Phòng, ngày 05/01/2012, đứng lên cầm súng bắn thẳng vào người của nhà nước là một dấu chỉ đậm cho thấy sự cấp thiết toàn dân phải đứng lên chống lại sự bạo ngược, phản động của nhà nước hiện hành.
Nhưng đứng lên bằng cách nào? Có cách nào huy động được toàn dân cùng đứng lên?
Chống trả bằng vũ khí nóng thô sơ như gia đình họ Đoàn vừa mới làm hay tổ chức các cuộc nổi dậy, đốt phá, uy hiếp các viên chức nhà nước như ở Thái Bình năm xưa? Có cách nào khác tốt hơn không? Chắc chắn đây đều là những câu hỏi đang xâm chiếm suy nghĩ của nhiều người Việt Nam.
Để góp một phần nhỏ vào việc giải đáp những câu hỏi ở trên và những băn khoăn tương tự, Đối Thoại xin trân trọng giới thiệu chuyên mục “Đấu tranh Bất bạo động để Cứu nước”, sẽ khởi sự từ ngày 03 tháng 03 năm 2012. 
“Đấu tranh Bất bạo động để Cứu nước” sẽ cung cấp, chia sẻ với độc giả những kiến thức, quan điểm, kinh nghiệm và các nghiên cứu liên quan tới phương thức Đấu tranh Bất bạo động – một phương thức đã chứng tỏ được tính hiệu quả, ưu việt và văn minh trong sự đối đầu, bãi bỏ những thể chế độc tài lỳ lợm nhất của loài người. 
Đối Thoại hy vọng sẽ nhận được thêm giúp đỡ, góp ý của độc giả, các nghiên cứu gia cho chuyên mục này và Đối Thoại xin cảm ơn trước sự tiếp tay của các trang nhà trong việc chia sẻ, truyền tải nội dung của “Đấu tranh Bất bạo động để Cứu nước” tới quảng đại quần chúng.
Trân trọng
Đối Thoại
Ông già Sharp 83 tuổi, trông rất bình thường, lại là người đang được cho là đã có công cổ động phương pháp đấu tranh bất bạo động ở khắp nơi trên thế giới.
Tác phẩm From Dictatorship to Democracy (Từ Độc tài tới Dân chủ) của Sharp – một cẩm nang hướng dẫn cách lật đổ các nhà độc tài, xuất bản lần đầu vào năm 1993, đến nay đã được dịch sang 24 thứ tiếng khác nhau, có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, từ Miến Điện cho tới Bosnia và ngay gần đây nhất, tháng Hai năm 2011, trên Quảng trường  Tahrir ở Thủ đô Cairo, Ai-cập, người biểu tình đã chuyền tay nhau tập cẩm nang dày 94 trang của Sharp để chỉ cho nhau biết làm thế nào để truất bỏ các lãnh đạo độc tài.
Đối với nhiều kẻ độc tài thì các tác phẩm của Sharp đang là một mối đe dọa ghê gớm. Tổng thống Venezuela, Hugo Chevez đã từng phải lên tiếng công kích trực tiếp các tác phẩm của Sharp. Năm 2008, chính phủ Iran còn cho dựng hẳn một đoạn phim hoạt hìnhtrong đó mô tả Sharp là nhân viên của CIA đang bàn tính với John McCain và tỷ phú George Soros ở trong Nhà Trắng về những điệp vụ bí mật.
Một công điện của Đại sứ quán Mỹ tại Damascus (Syria), bị WikiLeaks tiết lộ, cho biết những người bất đồng chính kiến ở Syria đã huấn luyện cho người biểu tình bằng các tác phẩm của Sharp. Một công điện khác từ năm 2007 cũng cho biết nhà cầm quyền Miến Điện đã coi Sharp là một phần trong âm mưu “hạ bệ” chính quyền quân sự Miến Điện.
Nhưng chính Sharp đã từng phải ngồi tù vì phản đối chính phủ Hoa Kỳ bắt quân dịch trong cuộc chiến Triều Tiên năm 1953. Sharp cũng đã chứng kiến cuộc nổi dậy của sinh viên Trung Quốc ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 và đã từng lần mò được vào tận một căn cứ của lực lượng chống đối ở Miến Điện vào những năm 1990.
Hiện thời Sharp đang sống tại một căn nhà ở thị trấn East Boston, đó cũng là trụ sở của Học Viện Albert Einstein, một tổ chức phi lợi nhuận nhằm nghiên cứu về phương thức đấu tranh, phản kháng bất bạo động.
Một trong những quan điểm chính của Sharp là mọi quyền lực thống trị đều bắt nguồn từ sự tuân phục của người bị trị, do đó nếu các nguồn gốc của sự tuân phục bị tổn hại thì kẻ thống trị độc tài sẽ bị lật đổ. Trong cuộc trò chuyện sau đây với phóng viên của kênh truyền hình Al Jazeera, với một nhãn quan thực dụng, Sharp sẽ cho chúng ta biết tại sao những kẻ độc tài lại rất mỏng manh trước những cuộc phản kháng, đấu tranh bất bạo động và được tổ chức tốt.
Điều gì trước tiên đã khiến ông quan tâm tới đấu tranh bất bạo động?
Thế giới vào lúc tôi đang là sinh viên tại Đại học Ohiorất bất ổn. Thế chiến thứ II khủng khiếp vẫn còn in hằn trong ký ức của chúng tôi, bom nguyên tử vẫn còn rất mới và kinh khủng. Lúc đó chủ nghĩa thực dân của châu Âu vẫn hiện diện khắp thế giới. Người châu Âu lúc đó vẫn nghĩ họ là chủ nhân của cả phần còn lại của thế giới và sẽ cùng nhau chia và thống trị thế giới.
Nhiều vấn đề hệ trọng cũng luôn liên quan tới bạo lực. Nhưng bạo lực đã chỉ gây đổ vỡ, hỏng hóc, không tạo ra được cái mới. Vì vậy tôi nghĩ con người cần phải có một cách khác để đấu tranh. Chính khi đó tôi bắt đầu biết rằng đã có một cách thức gọi là đấu tranh bất bạo động, nhưng những điều tôi biết còn lơ mơ lắm. Các tài liệu lúc đó về vấn đề đó vừa ít lại vừa không rõ ràng.
Ông đã dành công sức cho vấn đề đấu tranh bất bạo động suốt mấy chục năm qua. Vậy quan điểm của ông đã có sự thay đổi như thế nào kể từ lúc bắt đầu?
Đầu tiên tôi nghĩ rằng để sử dụng phương pháp bất bạo động – phi bạo lực, mình phải tin vào “bất bạo động” như một nguyên tắc đạo đức hay một niềm tin tôn giáo. Nhưng sau đó tôi đã phát hiện ra rằng điều đó không đúng. Ban đầu đó cũng là một khó khăn về tâm lý vì, trời ơi, thường thì người ta không tin vào những điều mà họ cần phải tin.
Nhưng đó cũng là một thuận lợi lớn, vì chúng ta không cần phải trở thành một người theo chủ nghĩa hòa bình trước khi chúng ta có thể sử dụng phương pháp đấu tranh đó. Sau đó tôi cũng phát hiện ra là cách thức đấu tranh đó đã diễn ra nhiều lần ở nhiều nơi trong hàng thế kỷ đã qua. Những người dân bình thường có thể sử dụng và đã sử dụng cách thức đấu tranh bất bạo động ở rất nhiều nơi khác nhau trên trái đất này rồi.
Nhưng tại sao ông lại cho rằng phương pháp đấu tranh bất bạo động hiệu quả hơn cách dùng bạo lực, vũ khí sát thương?
Trước tiên, phải khẳng định là bạo lực hoàn toàn không có được hiệu quả của đấu tranh bất bạo động. Nếu bạn xem lại những năm tháng dài dằng dặc của biết bao cuộc chiến và cuộc chiến nào cũng có người thua bạn sẽ thấy điều đó. Chiến tranh cũng đã là một trong những nhân tố tạo ra chủ nghĩa thực dân của châu Âu.
Trong khi đó lại có nhiều trường hợp người dân đã sử dụng cách phản kháng, đấu tranh mà không dùng tới vũ lực, khí giới sát thương, như Gandhi – dám thách thức cả một đế chế hùng mạnh nhất của thế giới và buộc nó phải đầu hàng. Và còn rất nhiều ví dụ khác. Nhưng chúng ta lại không biết nhiều về các dạng thức đấu tranh đó.
Ông vừa cho biết là giới quân sự lại hiểu ông đúng hơn so với những người có quan điểm hòa bình. Xin ông cho biết rõ hơn?
Ban đầu tôi cũng thấy ngạc nhiên vì điều đó. Thỉnh thoảng tôi cũng được mời đến nói chuyện với những người chủ trương hòa bình nhưng họ thường làm cho tôi thấy khá mệt vì trong khi tôi nói về đấu tranh không dùng bạo lực như một thực tiễn bắt buộc thì họ lại nói về việc phải tin vào việc không dùng bạo lực như một đức hạnh.
Nhưng khi nói chuyện với cử tọa là giới quân sự thì họ hiểu ngay vấn đề vì những người này đã biết được thế nào là chiến lược, thế nào là chiến thuật. Giới quân sự là những người đã thực sự xem xét vấn đề đấu tranh bất bạo động nghiêm túc hơn nhiều. Đó cũng là thực tế tôi đã thấy ở nhiều quốc gia. Ngay hiện nay, cuốn sách viết năm 1973 của tôi The politics of Nonviolent Action (Chính trị của Bất bạo động) cũng được nói đến một cách thiện cảm trong các tạp chí quân sự ở nhiều nước. Đó là điều ít người nghĩ tới.
Ông đã nhấn mạnh nhiều lần tầm quan trọng phải có một chiến lược và kế hoạch dài hạn đối với các cuộc đấu tranh bất bạo động nếu muốn chiến thắng. Dưới góc độ này, ông suy nghĩ gì về phong trào Chiếm Phố Uôn (Occupy Wall Street) đang diễn ra?
Họ không có những yêu cầu cụ thể hay một mục tiêu rõ ràng nào cả. Phong trào này không giống với chiến dịch tẩy chay xe bus ở Alabama năm xưa – người ta đã rủ nhau đi bộ, bắt xe hoặc đi taxi thay cho việc lên xe bus. Những người năm xưa đó đã có một mục tiêu rõ ràng, đó là: phá bỏ sự phân biệt trên xe bus.
Những người phản kháng ở Phố Wall không có mục tiêu rõ ràng – một điều gì đó có thể đạt được trên thực tế. Nếu như họ nghĩ rằng họ sẽ làm thay đổi được hệ thống kinh tế hiện nay chỉ bằng cách ngồi ở một nơi nào đó thì chắc họ sẽ phải thất vọng lớn. Phản đối suông rất ít kết quả.
Ông có lời khuyên gì cho phong trào Chiếm giữ không?
Tôi nghĩ là họ cần phải tìm ra một cách khác mới có thể làm thay đổi được những thứ họ không thích. Nếu chỉ ngồi hay ở lỳ một nơi nào đó sẽ không thể thay đổi hay cải thiện được một hệ thống chính trị hay kinh tế.
Các phong trào Mùa xuân Ả-rập ở một số nước đang trở thành bạo động. Ông có nghĩ là sự biến đổi bạo động đó sẽ gây hại cho những nỗ lực phế truất các chính thể độc tài ở những nước đó không?
Chắc chắn là gây tổn hại. Chúng ta có thể thấy hiệu ứng bất lợi do bạo động như thế từ rất nhiều  sự kiện trong lịch sử. Ví dụ, cuộc Cách mạng Nga năm 1905 nhằm loại bỏ sự độc tài của Sa Hoàng. Những người tiến hành cách mạng đã mấp mé tới sự thành công mỹ mãn khi lực lượng quân đội của Sa Hoàng đã ở trên bờ vực nổi loạn và sụp đổ, rất nhiều quân lính đã từ chối lệnh bắn vào những người phản kháng bất bạo động, tương tự như tình hình đang diễn ra ở Syria hiện nay.
Chúng ta phải nhớ nằm lòng rằng phương thức thức bất bạo động sẽ làm gia tăng khả năng binh lính trở nên bất tuân mệnh lệnh. Nhưng nếu bạn lại dùng tới bạo lực thì binh lính sẽ mất ngay ý định đó. Họ sẽ tiếp tục trung thành với kẻ độc tài và kẻ độc tài sẽ có cơ hội vàng để tiếp tục tồn tại, giống như những gì đã xảy ra trong cuộc Cách mạng Nga 1905. Lẽ ra cuộc cách mạng đó đã thành công rất nhanh chóng nếu những người Bôn-sê-vích không cố tình biến cuộc tổng bãi công bất bạo động trở thành cuộc nổi dậy bạo động. Và điều đó khiến lần đầu tiên sau một thời gian khá lâu, binh lính Sa Hoàng lại tuân lệnh bắn vào những người phản kháng, mang lại cơ hội cho Sa Hoàng tiếp tục đàn áp và tiếp tục nắm quyền thêm 12 năm nữa.
Ông vừa nói là sự lãnh đạo có vai trò quan trọng trong các cuộc đấu tranh bất bạo động. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào một số cuộc đấu tranh gần đây, ở Ai-cập hiện tại hay ở Iran năm 1979, thì không thấy rõ một lãnh tụ cá nhân nào. Vậy có thể thành công mà không cần một lãnh đạo?
Có và đã xảy ra nhiều rồi. Nhưng trong những trường hợp (không có lãnh đạo cá nhân), chúng ta cần phải hiểu cái gì giúp cho thành công và cái gì sẽ đưa tới thất bại.
Nếu chúng ta không có một lãnh đạo cá nhân nổi bật thì điều đó nhiều khi lại là một lợi thế vì chính quyền không thể khống chế được phong trào bằng cách bắt hoặc trừ khử người lãnh đạo.
Nhưng khi đấu tranh mà không có một lãnh đạo (cá nhân) thì tất cả phải hết sức kỷ luật và thuần thục các kỹ năng khi hành động, phải ý thức được rõ điều bạn đang làm. Ví dụ khi chúng ta truyền đi một thông điệp về những yêu cầu của phong trào và lại có một danh sách cụ thể những việc cần phải làm và những việc không được làm và nếu tất cả mọi người đều hiểu và thực hiện đúng nhữn điều đó thì cuộc đấu tranh có nhiều cơ hội thành công. Ngược lại khi bạn không có sự thông hiểu tối thiểu về những gì bạn đang làm thì bạn sẽ không thể thành công.
Từ khi diễn ra cuộc Cách mạng ở Ai-cập tới nay, giới truyền thông đã gắn kết sự nổi dậy đó với các công trình của ông. Ông nghĩ gì về điều này?
Tôi chỉ nghĩ là nếu như công việc của tôi đã có một ảnh hưởng nào đó thì tôi cảm thấy hạnh phúc. Nhưng tôi không khẳng định được vì tôi không có những bằng chứng rõ ràng về điều đó. Nhiều người khác cũng đang làm những công việc như tôi và cũng đang viết về vấn đề này.
Những người đang tiến hành các cuộc đấu tranh bất bạo động mới chính là những người xứng đáng nhận sự tôn vinh này, không phải tôi.
Ông nghĩ gì về việc cuốn sách của ông Từ Độc tài tới Dân chủ đã được đưa lên website của tổ chức Muslim Brotherhood[i] trong nhiều năm qua?
Tôi thấy vinh dự. Người Hồi giáo là một trong những dân tộc dũng cảm nhất đang tiến hành đấu tranh bất bạo động. Một cuốn sách của tôi đã được giới thiệu bởi Abdul Rahman Wahid khi ông ta đang là thủ lĩnh của một tổ chức Hồi giáo lớn nhất trên thế giới. Quay trở lại với những ngày khi Gandhi còn sống, trong vùng biên giới tây bắc của Ấn độ khi vẫn còn dưới chế độ thực dân Anh đã có một phong trào đấu tranh bất bạo động được dẫn dắt bởi Khan Abdul Ghaffar Khan, một người hết sức dũng cảm, tài năng và hết sức nhạy bén. Gandhi khi đó đã nói là lãnh đạo của phong trào Hồi giáo đó hơn hẳn lãnh đạo của phong trào người Hindus.
Thế mà ngày nay nhiều người vẫn còn giữ những thành kiến không hay về người Hồi giáo và một số dân tộc khác trên thế giới.
Ông có học được điều gì từ những người đang tham gia vào những cuộc đấu tranh bất bạo động không?
Ồ, tôi luôn cố học mỗi khi có thể vì những điều họ đã làm được đôi khi lại bị nhiều người khác cho rằng đó là những điều không thể.
Những người đấu tranh bất bạo động đã chứng minh rằng những dân thường vẫn có thể tạo dựng được một kỷ luật bất bạo động, duy trì được sự quả cảm để đấu tranh trước mọi trấn áp. Gandhi thường nói rằng: “Hãy ném sự sợ hãi đi. Đừng e sợ”. Ban đầu tôi hay nghĩ những lời nói đó của Gandhi hơi ngây thơ. Người Anh có súng ống, khí tài và cả quân đội hùng mạnh còn Gandhi có gì? Nhưng cuối cùng Gandhi đã thắng.
Nhân dân Syria hiện nay cũng thế, và ở nhiều nơi khác như Ai-cập, Tunisia và còn nữa, tất cả họ đều là những người rất dũng cảm. Lòng quả cảm đó thật đáng khâm phục. Họ chính là những người đang thực hiện một sứ mệnh rất cao cả.
Theo ông ngày nay có những nhà tư tưởng lớn nào về đấu tranh?
Tôi không chắc chắn về vấn đề này. Đôi khi có những người thực sự đã đóng vai trò rất quan trọng cho một số phong trào nhưng những người như thế nhiều lúc lại không được ghi nhận danh dự mà họ xứng đáng. Họ không phải là những người nổi tiếng như Gandhi lúc sinh thời. Nhưng đó không phải là điều đáng quan ngại nếu như người dân nhận thức được rằng họ có thể thực hiện được những cuộc đấu tranh bất bạo động và hiểu được rằng quyền lực trong tay người dân là rất to lớn.
Thường một trận đấu chưa thể hoàn thành được một sứ mệnh. Đôi khi bạn phải tiến hành hai hoặc ba hoặc bốn hay năm cuộc đấu tranh liên tiếp. Điều đó cũng giống như trong một cuộc chiến. Ví dụ, Thế chiến II đã phải xảy ra bấy nhiêu năm, với nhiều trận đấu mới có được chiến thắng cuối cùng. Khó có thể chiến thắng ngay bằng một nỗ lực. Chúng ta phải biết rằng mỗi người phải luôn củng cố thêm sức mạnh cho bản thân, phải biết điều gì cần để trở nên mạnh mẽ hơn, tự tin hơn và cái gì cần để dũng cảm hơn, để không những không bỏ cuộc khi bị tấn công mà còn tìm cách tiến lên một cách hiệu quả.
Xin cảm ơn ông.
Đối Thoại biên dịch từ nguyên bản tiếng Anh

[i] Tổ chức Anh em Hồi giáo – một tổ chức đấu tranh của người Hồi Giáo có chi nhánh ở nhiều quốc gia Trung Đông, nhằm chống lại chế độ độc tài của Tổng thống Ai-cập Hosni Mubarak. (Đối Thoại)

____________________________________________–

VỀ ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG
(NON-VIOLENT RESISTANCE)
(Tiếp theo kỳ trước và hết)
III. Sự khác nhau giữa Đấu tranh bất bạo động với Tinh thần Bất bạo động và Phản kháng thụ động

Đấu tranh bất bạo động, Tinh thần Bất bạo động và Phản kháng thụ động là ba vấn đề khác nhau.

Tinh thần Bất bạo động là một lựa chọn về đạo đức, liên quan tới một hệ thống các nguyên tắc hay niềm tin có tính đạo đức hoặc tôn giáo mà không sử dụng vũ khí hay sức mạnh vật lý.  
Phản kháng thụ động là sự chán chường, trông chờ thay đổi hay là tình trạng im lặng, mặc kệ mọi thứ xấu xa, bất công.
Đấu tranh bất bạo động là một lựa chọn cách thức đấu tranh có tính thực dụng dành cho những người dân thường để tranh đấu, để giành lấy những quyền hoặc những mục tiêu có tính xã hội, kinh tế hay chính trị. Rất nhiều người đã sử dụng các hành động bất bạo động để giành lại hay gia tăng các quyền và các lợi ích của bản thân nhưng việc lựa chọn phương pháp bất bạo động thường là kết quả của việc nhận thức được rằng việc dùng vũ lực và các phương tiện bạo động là không hiệu quả hoặc vì họ không thể có các vũ khí bạo động.
Khi một phong trào đấu tranh bất bạo động thực hiện được một chiến lược nhằm tập hợp, đoàn kết người dân, huy động họ tham gia hành động, tập trung được sự chú ý của người dân vào các mục tiêu khả thi nhằm làm suy giảm sự trung thành và sự hợp tác của những người ủng hộ kẻ  đàn áp (chính quyền độc tài) – đặc biệt là lực lượng công an và quân đội – thì tức là phong trào đó có tiềm năng tạo ra được sức mạnh có khả năng làm thay đổi quyền lực đang thống trị xã hội.
Đấu tranh bất bạo động là một dạng thức đấu tranh chủ động bằng các hoạt động dân sự (phi bạo lực, phi võ trang) nhằm gây ra những gián đoạn về chính trị, xã hội, gây áp lực lên kẻ áp bức (chính quyền độc tài). Đấu tranh bất bạo động không phải là tình trạng không làm gì cả, cam chịu, thờ ơ, mặc kệ hay trông chờ. Đấu tranh bất bạo động hoàn toàn không phải là “phản kháng thụ động”.
Gandhi đã gọi Đấu tranh bất bạo động là “sức mạnh chủ động nhất và uy lực nhất trên thế giới.
IV.             Sự phổ biến và hiệu quả của Đấu tranh bất bạo động
Đấu tranh bất bạo động đã nổ ra trong lịch sử nhiều hơn những gì chúng ta biết. Một số những chế độ đàn áp khốc liệt nhất trong thế kỷ 20 đã bị loại bỏ bởi chính các cuộc đấu tranh bất bạo động.
Người Anh đã phải từ bỏ việc chiếm đóng Ấn Độ sau hàng chục năm bị người Ấn Độ phản kháng bất bạo động dưới sự lãnh đạo của Gandhi.
Người Đan Mạch và nhiều dân tộc ở châu Âu đã sử dụng phương pháp bất bạo động để chống lại sự chiếm đóng của Phát xít Đức trong Chiến tranh Thế giới II, làm gia tăng chi phí chiếm đóng cho chính quyền Đức và giúp nâng cao tinh thần đấu tranh và sự đoàn kết của dân chúng, bảo vệ được hàng ngàn người Do Thái ở Berlin, Đan Mạch, Bulgaria và nhiều nơi khác.
Những người Mỹ gốc Phi đã sử dụng các chiến thuật bất bạo động nhằm xóa bỏ chính sách phân biệt chủng tộc ở Mỹ vào những năm 1960.
Tại Chile, Tướng Augusto Pinochet đã tra tấn và giết hại hàng nghìn người bất đồng chính kiến, nhưng cuối cùng đã bị lật đổ bởi một phong trào đấu tranh bất bạo động.
Tại Philippines, hơn 70 thành viên của phe đối lập đã bị giết trước cuộc bầu cử năm 1986 nhưng không lâu sau đó nhân dân vẫn thực hiện thành công cuộc lật đổ một cách hòa bình toàn bộ chế độ độc tài của Ferdinand Marcos, buộc nhà độc tài Ferdinand Marcos phải rời quyền lực, tẩu thoát ra nước ngoài.
Các công nhân Ba Lan đã sử dụng các cuộc bãi công trong năm 1980 để giành lại được quyền thành lập công đoàn tự do, không chịu sự kiểm soát của chính quyền. Đó là một thắng lợi vô cùng quan trọng trong một đất nước cộng sản ngay vào lúc vẫn có sự hiện diện của khoảng một triệu lính cộng sản Xô-Viết đang đồn trú ở đó.
Chế độ Apartheid ở Nam Phi đã coi mọi cuộc tập hợp, hội họp ở các khu dân cư của người da đen là bất hợp pháp, và luôn đe dọa, ám sát những nhà lãnh đạo của phong trào đấu tranh bất bạo động. Nhưng cuộc đấu tranh bất bạo động của người bản xứ vẫn đứng vững và đủ khả năng làm tan rã các nguồn lực trợ giúp, trong nước và quốc tế, cho chế độ Apartheid, mở đường cho sự thay đổi chính trị từ độc tài sắc tộc sang dân chủ, bình đẳng cho mọi màu da.
Cuối thập niên 1980, các quốc gia Đông Âu và Mông-Cổ đã thành công trong việc sử dụng các hình thức phản đối, đấu tranh dân sự tạo được sức sức ép lên các chính quyền cộng sản và cuối cùng đã làm cho các đảng cộng sản phải chấp nhận cạnh tranh công khai với các đảng phái khác trong việc lãnh đạo đất nước.
Ở Gru-dia (Georgia) năm 2003 hay tại Nepal năm 2006, các phong trào đấu tranh bất bạo động đều đã đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ hoặc phục hồi lại được các chính thể dân chủ cho quốc gia.
Gần đây nhất là các phong trào đấu tranh bất bạo động ở Ai-Cập, Tunisia cũng đã bãi bỏ được các những chính thể thuộc những chính thể độc tài trơ lỳ nhất thế giới trong 50 năm trở lại đây.
Một trong những lý do cơ bản giúp những phong trào bất bạo động vừa kể và những phong trào bất bạo động khác đã thành công trong việc chống lại các đối thủ tàn bạo là vì các phong trào đó đã đánh hỏng được sự ủng hộ của nhiều thành phần quan trọng trong xã hội – gồm cả lực lượng an ninh – dành cho kẻ đàn áp (chính quyền độc tài). Bất cứ khi nào một phong trào bất bạo động có khả năng làm được việc đó thì kẻ cầm quyền sẽ trở thành bất lực trước các biến động xã hội và sự chuyển giao quyền lực, cho những cá nhân hoặc cho một hệ thống chính trị mới, tất yếu sẽ xảy ra.
Những người không hiểu cách tác động của phương thức đấu tranh bất bạo động thường đánh giá thấp khả năng và những thành quả của nó, nhưng hàng triệu người – những người đã thoát khỏi ách kìm kẹp của những nhà nước cảnh sát, những chế độ toàn trị cộng sản sau những cuộc đấu tranh bất bạo động, không thể đồng ý với cách đánh giá đó.
V.                Nhìn nhận của các chính quyền về đấu tranh bất bạo động
Các chính quyền thường ít quan tâm hoặc không nhất quán trong việc đánh giá tiềm năng của các hoạt động đấu tranh bất bạo động.
Ví dụ, vào đầu và giữa những năm 1990, Hoa Kỳ đã nhấn mạnh chính sách ngoại giao trong việc chấm dứt sự hung hãn, tàn bạo của Slobodan Milosevic ở Bosnia, nhưng Milosevic đã từ chối không nhượng bộ những nhà đối lập dân chủ của ông ta ở Serbia khi họ sử dụng các chiến thuật bất bạo động để phản đối. Sau đó, khi Milosevic bắt đầu chiến dịch thanh lọc sắc tộc ở Kosovo thì NATO mới tiến hành chiến dịch bỏ bom Serbia để bắt ông ta phải chấm dứt các hành động sát hại nhưng vẫn để ông ta nắm quyền. Nhưng cuối cùng, vào năm 1999, Hoa Kỳ và các tổ chức của châu Âu đã phải dành sự ủng hộ, dù rất khiêm tốn, nhưng dứt khoát cho các tổ chức đấu tranh bất bạo động vì dân chủ ở Serbia và những tổ chức đó đã thành công trong việc đưa Milosevic rời khỏi quyền lực.
Những gì mà đàm phán quốc tế hay chiến dịch không quân đều không làm được – như việc kết thúc dứt điểm chủ nghĩa khủng bố của Milosevic – thì cuộc đấu tranh bất bạo động của người Serbia đã thực hiện thành công. Tuy nhiên những trợ giúp của Hoa Kỳ và châu Âu cho các phong trào đấu tranh dân chủ ở Serbia, dù không phải là lý do cơ bản cho thành công, đã mang lại những hỗ trợ rất quí giá. Hiện nay đã có một sự biến chuyển lớn về nhận thức trong việc hoạch đính chính sách tại các quốc gia lớn là các phong trào đấu tranh bất bạo động thường mang lại những nền tảng cơ bản cho dân chủ – điều rất cần cho nền hòa bình vững bền, hơn là các đấu tranh vũ trang. Nhận thức này cũng đang ảnh hưởng khá lớn tới quan điểm kiến tạo hòa bình cho thế giới trong các tổ chức quốc tế tầm cỡ.
VI.             Tại sao thành công của đấu tranh bất bạo động trong việc giành chính quyền chưa được đánh giá rộng rãi?
Phần lớn mọi người đã được dạy rằng quyền lực, sức mạnh luôn thuộc về những người cầm quyền của một chính quyền, những ông chủ công ty, những người đứng đầu các tổ chức hoặc mọi người thường có một ý nghĩ rằng quyền lực hay sức mạnh luôn đồng nghĩa với bạo lực hay sự đe dọa sử dụng bạo lực. Vì vậy, nhiều người đã không nhận thấy một khi những người dân rất bình thường của một thành phố, một thị trấn, một vùng hoặc của một quốc gia tổ chức được với nhau thì họ cũng có khả năng tạo ra được sức mạnh, quyền lực có khả năng áp đặt một thay đổi đối với toàn xã hội.
Một điều đáng tiếc là có những học giả, những tổ chức và một số cơ quan truyền thông lại đã góp phần gia cố, một cách vô tình, cách nhìn thiên lệch cho rằng quyền lực, sức mạnh chỉ đến từ những người lãnh đạo hoặc từ sức mạnh của bạo lực, vì những học giả, tổ chức hay những cơ quan truyền thông đó thường viết hay nói theo cách làm cho dư luận dễ lầm tưởng rằng luôn có mối liên hệ chặt chẽ duy nhất giữa quyền lực, sức mạnh với người có quyền hay bạo lực. Điều đó gây ra một cảm nhận sai lầm cho rằng những hành động của giới thượng lưu, của các nhà cách mạng nổi tiếng hay từ những kẻ khủng bố là những cách thức đấu tranh có uy lực nhất để chống lại sự áp bức. Nhưng đến nay, sự thật đã chỉ rõ rằng trong hơn 100 năm qua, những kẻ độc tài khát máu nhất và cả những lực lượng quân sự hùng hậu nhất đều đã bị vô hiệu hóa và bị lật đổ bởi những cuộc đấu tranh bất bạo động có tổ chức tốt.
VII. Các phong trào bất bạo động không nhất thiết phải có các lãnh đạo nổi trội
Các phong trào đấu tranh bất bạo động không nhất thiết phải có các lãnh đạo nổi trội như Gandhi hay Martin Luther King.
Mặc dù lãnh đạo có sức thu hút quần chúng lớn có thể là một yếu tố quan trọng nhưng khả năng của một phong trào và các lãnh đạo của nó có thể đề ra một tư duy chiến lược rõ ràng và đưa được ra các quyết định đúng đắn, khôn ngoan trong đấu tranh có vai trò quan trọng hơn nhiều cho sự thành bại. Ví dụ, các sinh viên Trung Quốc đã lãnh đạo cuộc phản kháng tại Quảng trường Thiên An Môn đã có những cá nhân nổi bật nhưng phong trào của họ đã sụp đổ vì nó không có một chiến lược để đối phó khi chính quyền Trung Quốc từ chối đáp ứng các đòi hỏi của họ.
Trong một số tình huống, có được một lãnh đạo nổi trội và thu hút dư luận lại có thể gây hại cho thành công của phong trào, vì người lãnh đạo có thể bị bắt, bị mua chuộc, bị đe dọa hoặc đưa ra những quyết định tồi. Thực tế đã cho thấy các phong trào biết cách che giấu hoặc sự lãnh đạo phân tán vào nhiều cá nhân vẫn phát triển được tốt hơn. Ví dụ, lãnh đạo của cuộc kháng chiến âm thầm của người Đan Mạch chống lại người Đức trong Thế chiến II đã thành công nhưng lãnh đạo lại hoàn toàn vô danh. Phong trào đấu tranh của người Serbia chống lại nhà độc tài Slobodan Milosevic năm 2000 cũng là một phong trào phi tập trung và không hề có một lãnh đạo cá nhân nhưng đã thành công vang dội.
Ngay như thành công của Gandhi cũng không dựa trên khả năng hùng biện hay sức thu hút quần chúng của riêng ông mà chính là dựa vào các chiến dịch đấu tranh bền bỉ đã được nhiều người dân Ấn Độ từ mọi thành phần xã hội tham gia với ước mong giành lại quyền tự quyết cho đời mình và kết quả là đã làm cho sự thống trị của người Anh bị giảm dần rồi kết thúc.
Martin Luther King đúng là một nhà hùng biện xuất chúng nhưng tài năng này có lẽ cũng không mang lại được nhiều kết quả nếu ông và những đồng sự không tìm được những cách đấu tranh thông minh, khôn khéo để người Mỹ gốc Phi và những người ủng hộ họ tạo được áp lực đòi xóa bỏ hệ thống phân biệt chủng tộc và cắt đứt được các trợ giúp về kinh tế, chính trị cho hệ thống phân biệt đó. 
Tài liệu chính để biên soạn:
1.      Basic concepts
 *********

VỀ ĐẤU TRANH BẤT BẠO ĐỘNG

(NON-VIOLENT RESISTANCE)
BBT: Có lẽ đến nay, chúng ta không còn xa lạ gì với thuật ngữ “đấu tranh bất bạo động” khi thế giới gần đây đã chứng kiến nhiều cuộc chuyển đổi thể chế chính trị một cách triệt để mà không cần dùng đến những toán du kích, các tổ chức vũ trang hay các cuộc tấn công giành chính quyền đẫm máu và nồng nặc mùi thuốc súng. Đó chính là cách giành chính quyền, thay đổi thể chế chính trị bằng phương pháp bất bạo động – đấu tranh bất bạo động. Nhưng “đấu tranh bất bạo động” không đơn giản là những hành vi phản kháng tự phát không dùng đến vũ khí sát thương hay bạo lực. “Đấu tranh bất bạo động” là một phương pháp đấu tranh có một nền tảng và những nguyên tắc khoa học – được rút ra từ kinh nghiệm, thực tế và nghiên cứu – buộc phải tuân thủ. Hai bài đầu tiên trong chuyên mục này là những thông tin liên quan đến những vấn đề cơ sở đó của Đấu tranh bất bạo động. Trân trọng giới thiệu
I.                  Thế nào là đấu tranh bất bạo động?
Là sự phản kháng được dựa trên các phương tiện dân sự để thách thức, chống lại tính chính đáng của kẻ áp bức (chính quyền độc tài), làm tăng các chi phí, thiệt hại cho hành động đàn áp và gây thương tổn các nguồn duy trì sức mạnh của kẻ đàn áp (chính quyền độc tài), kể cả lực lượng cảnh sát và quân đội.
Các điều kiện cần cho một Đấu tranh Bất bạo động
      Có một xung đột trong đó ít nhất có một bên tin rằng các phương thức đấu tranh thông thường không đủ để giải quyết xung đột.
      Khi có một quyết định cho rằng dùng những hoạt động phi bạo lực (bất bạo động) là cách hiệu quả nhất để tiến hành đấu tranh, giải quyết xung đột.
      Việc sử dụng các chiến thuật, các hoạt động bất bạo động dựa trên các hoạt động phi võ trang, cùng với sự hỗ trợ của dân chúng được coi là nền tảng cho mục đích chiến lược nhằm gây tổn hại, làm đứt đoạn các nguồn duy trì quyền lực của đối thủ.
Có hơn 198 cách thức phản kháng bất bạo động. Những dạng phản đối như thỉnh nguyện thư, tuần hành, trưng bày các biểu tượng, biểu tình rộng lớn – có thể làm suy yếu tính chính đáng của kẻ đàn áp và giúp thuận lợi cho việc huy động và mở rộng thêm các thành phần tham gia vào phong trào đấu tranh bất bạo động. Một số cách thức bất hợp tác khác như từ chức, bỏ việc, từ chối tuân lệnh hay các hoạt động bất tuân dân sự khác – đều có thể góp phần làm thay đổi hiện trạng. Những cách bất hợp tác khác như bãi công, tẩy chay, không trả phí, không đóng thuế – có tác dụng cắt đứt những nguồn lực vật chất của kẻ đàn áp. Những hành động can thiệp trực tiếp dưới dạng biểu tình ngồi, các hoạt động nhằm làm tổn hại kinh tế cho chính quyền và các hành động ngăn chặn gây ách tắc cũng có thể làm đứt gãy hệ thống kiểm soát của chính quyền đàn áp.
Các hoạt động (chiến thuật) phản kháng có những hình thức rất đa dạng tùy thuộc vào lượng thời gian cho phép và nguồn lực cần để thực hiện (ví dụ: phải cân nhắc giữa việc chiếm giữ một tòa nhà với việc trưng diễn một biểu tượng), và phụ thuộc cả vào những rủi ro có thể xảy ra (ví dụ: bãi công ở nơi công cộng và kêu gọi bãi công ở trong phân xưởng, nhà máy so với việc phát động tẩy chay hàng hóa hay bãi công ngồi ở nhà), vào mức độ tập trung hay phân tán của dân chúng (ví dụ: tổ chức biểu tình ngay trước tòa thị chính hay triển khai chiến dịch từ chối đóng thuế), và phụ thuộc vào số người cần để thực hiện một kế hoạch (ví dụ: kêu gọi một cuộc tuyệt thực phản đối hay tổ chức một chiến dịch bất tuân dân sự rộng lớn)
Các chiến thuật cũng thay đổi tùy theo chức năng của mỗi loại. Ví dụ, một số chiến thuật như phân phát tài liệu để tuyển mộ người tham gia hoặc các hoạt động nhằm lập quĩ, hoặc huấn luyện nhân sự cho phong trào – có chức năng chủ yếu làm gia tăng sức mạnh cho phong trào, trong khi một số chiến thuật khác, như biểu tình rộng lớn, bãi công – lại có tác dụng thách thức trực tiếp, làm suy yếu uy tín của đối thủ (chính quyền).
II.               Uy lực của Đấu tranh bất bạo động
Quyền lực lãnh đạo trong mọi xã hội đều có nguồn gốc từ sự ưng thuận và tuân phục của người dân trong xã hội đó. Trong khi đấu tranh bất bạo động lại nhằm làm cho người dân thay đổi các điều kiện, đặc tính của sự ưng thuận và tuân phục của họ, từ đó sẽ dẫn tới những thay đổi về hành vi, về cách ứng xử của họ đối với quyền lực và trong việc thực thi quyền lực.
Mọi kẻ áp bức đều phải dựa vào sự trợ giúp, ủng hộ của các nhóm người quan trọng trong xã hội nhằm duy trì sự kiểm soát của chúng. Các họat động đấu tranh bất bạo động nhằm làm thay đổi sự trung thành, sự gắn bó và gây tan vỡ sự tin cậy của các nhóm người đó đối với kẻ cầm quyền áp bức.
Đấu tranh bất bạo động tác động tới quyền lực áp bức bằng cách làm suy yếu khả năng kiểm soát và vị thế (xã hội, quốc gia) của kẻ áp bức (chính quyền độc tài). Các tác động đó xảy ra một cách điển hình khi sự tin cậy, sự trung thành của những nhóm người quan trọng của xã hội (như cảnh sát, quân đội, giới công chức, giới lao động chân tay, sinh viên, các tổ chức tôn giáo hoặc các nhóm người khác), mà kẻ đàn áp (chính quyền độc tài) dựa vào để tồn tại, để duy trì vị thế của chúng, bị suy giảm hoặc sụp đổ. Các nhóm, các thành phần xã hội đó hoặc sẽ chuyển thành trung lập hoặc sẽ chủ động tham gia vào phong trào bất bạo động để chống lại sự thống trị bất công của kẻ đàn áp.
Thành công của một phong trào đấu tranh bất bạo động không phụ thuộc vào mức độ trấn áp của chính quyền bị phản kháng. Ngay cả khi xảy ra các cuộc trấn áp tàn bạo từ chính quyền cũng không có nghĩa là phong trào bất bạo động đã thất bại. Ngược lại, sự trấn áp luôn là một dấu hiệu cho thấy đối thủ đang bị thách thức nghiêm trọng. Các phong trào đấu tranh bất bạo động đã thành công đều xây dựng và triển khai các kế hoạch có tính chiến lược nhằm vượt qua các trấn áp của chính quyền độc tài. Do đó, mức độ trấn áp có thể tạo nên đặc điểm cho một cuộc đấu tranh, nhưng không phải là yếu tố quyết định cho sự thành bại của một cuộc đấu tranh.
Thành công của một phong trào đấu tranh bất bạo động cũng không phụ thuộc hoàn toàn vào việc chuyển hóa hay thuyết phục đối thủ (chính quyền độc tài) phải đồng ý với các mục tiêu, yêu sách của phong trào hay phải mủi lòng với các hy sinh, than phiền của phong trào. Mặc dù sự thuyết phục và chuyển hóa có thể diễn ra nhưng đấu tranh bất bạo động đúng nghĩa và đầy đủ luôn có khả năng áp đặt bằng cách gây tổn thương, làm đứt đoạn các nguồn cung cấp những yếu tố cần thiết, vật chất và tinh thần, cho việc duy trì quyền lực độc đoán.
Khi các nhóm đối lập đủ khả năng để kết hợp với nhau, có khả năng để cùng nhau tạo thành một phong trào bất bạo động, có khả năng để cùng đưa ra một chiến lược với những mục tiêu dựa trên những phân tích chính xác về thực trạng của họ và đủ khả năng để tổ chức các hoạt động nhắm vào việc làm chuyển đổi sự trung thành và thái độ của những người đang ủng hộ kẻ đàn áp, khi đó mọi sự đàn áp, áp bức sẽ không thể tiếp tục được nữa và quyền lực sớm muộn sẽ phải được chuyển giao.
(Còn nữa. Xin xem tiếp kỳ sau 10/03/2012)
 ___________________________________________________
Ai xây “chủ nghĩa tư bản man rợ” ở VN?
Cập nhật: 17:18 GMT – chủ nhật, 26 tháng 2, 2012
BBC phỏng vấn Lữ Phương
Media Player
Ông Lữ Phương
Nhà nghiên cứu chủ nghĩa Marx Lữ Phương
 chuyên tâm nghiên cứu độc lập và so sánh
chủ nghĩa Marx đích thực với thực tiễn Việt Nam
 trong hàng chục năm qua.
Lý luận gia Marxist và nhà nghiên cứu chính trị về đảng Cộng sản Việt Nam từ trong nước, ông Lữ Phương cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay không hề “liên quan” gì tới Chủ nghĩa Marx, mà chỉ đang “lợi dụng” chủ thuyết này trong việc xây dựng một thứ “chủ nghĩa tư bản man rợ, rừng rú.”
Trao đổi với bbcvietnamese.com hôm thứ Bảy, 26/02/2012, trong chuyên đề về trí thức, Đảng Cộng sản và phản biện xã hội, nhà nghiên cứu độc lập này khẳng định chủ nghĩa Marx “đích thực” không có quan hệ gì đến thực tiễn Việt Nam trong suốt chặng đường lịch sử nhiều chục năm qua và hiện nay.
Ông nói: “Tôi thấy, Chủ nghĩa Marx chẳng dính dấp gì đến thực tại Việt Nam cả. Thứ nhất, những người nhân danh chủ nghĩa Marx để họ quản lý, lãnh đạo xã hội, họ cho rằng ‘tiến lên chủ nghĩa xã hội’, nói một cách văn vẻ, thì họ ngộ nhận, họ hiểu lầm, họ không hiểu gì cả.
“Còn nói trắng ra, họ lợi dụng, họ bóp méo hoàn toàn chủ nghĩa Marx, không dính dấp gì ở đây, nó là một chủ nghĩa Lênin, Stalin hóa, và nó là của Mao Trạch Đông. Cho nên những người nhân danh cái này để gọi là lãnh đạo Việt Nam, thì hoàn toàn không có cơ sở thực tế.
“Còn những người nào mà qua thực tế lãnh đạo nhân danh chủ nghĩa Marx này mà phủ định Marx, phê phán một cách vội vàng cũng không đúng luôn. Ý của tôi, chủ nghĩa Marx không dính dấp gì đến xã hội Việt Nam, cho nên họ không thể nhân danh chuyện này để đưa đất nước đến tương lai cả.”
Nhà nghiên cứu nhấn mạnh những ai “mượn” chủ nghĩa Marx “chân chính” như lâu nay vẫn làm ở Việt Nam để giành quyền lãnh đạo đất nước chỉ là “ngộ nhận hoặc lừa dối, huyễn hoặc” mà thôi.
‘Độc tài hay dân chủ
Theo Lữ Phương vấn đề ở Việt Nam hiện nay là không phải là theo chủ nghĩa Marx đích thực hay không đích thức mà là “vấn đề độc tài hay không độc tài”, vấn đề “phát triển hay không phát triển”, vấn đề “độc tài hay dân chủ.”
Nhà nghiên cứu cho rằng hoàn toàn có thể sử dụng các phạm trù, khái niệm, lăng kính của chính chủ nghĩa “Marx đích thực” để phóng chiếu và soi vào thực tế của xã hội VN, nhận diện “mặt thật” của tầng lớp thống trị, nhân dân bị trị hiện nay, qua đó nhận diện rõ được bản chất của “Đảng Cộng sản” cầm quyền mà vốn lâu nay theo ông vẫn “mượn” chủ nghĩa Marx để biện minh cho quyền lực độc tôn, thống đoạt từ tay nhân dân.
“Dùng chính khái niệm của Marx, tức là một phóng chiếu lộn ngược, thì tức là anh nhân danh những điều thế này, thế khác, nhưng trong thực tế, nó làm ngược hoàn toàn… Thí dụ như Marx nói xã hội công dân sẽ dần dần, từ từ nuốt chửng cái nhà nước thì bây giờ đây, nhà nước này lại trở thành một thứ nhà nước tuyệt đối, nhà nước vĩnh viễn.
“Thí dụ như giai cấp công nhân lãnh đạo thì bây giờ là giai cấp bị bần cùng hóa và người ta đang phải đấu tranh chống lại chủ nghĩa tư bản man rợ hiện giờ. Nông dân cũng vậy, bây giờ là cướp đất, cướp nhà của người ta. Tức là một cái phóng chiếu lộn ngược lại hoàn toàn.”
“Vấn đề dân chủ không phải là cuộc chiến tranh. Tôi có kinh nghiệm trải qua chiến tranh. Chiến tranh nói thế nào đi nữa, thì nó cũng có thời gian chấm dứt. Nhưng cuộc dân chủ có hàng loạt những vấn đề”
Ông Lữ Phương
Ở phần cuối của cuộc trao đổi với Quốc Phương của BBC, ông Lữ Phương khẳng định vấn đề của Việt Nam hiện nay là “chống chủ nghĩa tư bản man rợ” để xây dựng một “chủ nghĩa tư bản văn minh.”
Trên con đường này, ông khuyến nghị tầng lớp trí thức Việt Nam, ở trong hay ngoài nước, dù trong đảng cộng sản, hay không, cần phải “đoàn kết” với nhau, tránh “chia rẽ, bất hòa,” tỉnh táo chung tay xây dựng đất nước vì tương lai và công cuộc “dân chủ” của dân tộc.
Lữ Phương cảnh báo: “Vấn đề dân chủ không phải là cuộc chiến tranh. Tôi có kinh nghiệm trải qua chiến tranh. Chiến tranh nói thế nào đi nữa, thì nó cũng có thời gian chấm dứt. Nhưng cuộc dân chủ có hàng loạt những vấn đề.
“Ví dụ cái đảng này là một yếu tố thôi, nhưng còn dân trí, còn các tầng lớp trí thức, các tầng lớp khác, hàng loạt vấn đề khác nhau. Chứ không phải có những nơi làm một cuộc đảo chánh xong rồi, chẳng hạn chúng ta tổ chức được đa đảng, bầu cử đâu vào đó rồi, nhưng xã hội vẫn dẫm chân tại chỗ với tất cả những tệ nạn, những khuyết tật, bệnh trầm kha của một xã hội chậm tiến.”
Để giải quyết vấn đề, lý luận gia cho rằng “mấu chốt” của Việt Nam hiện nay và tương lai vẫn phải là một “xã hội dân sự”, một “xã hội công dân” trong quan hệ đối diện nhà nước, với các công dân có trách nhiệm, có ý thức, có năng lực, không bị “huyễn hoặc,” là những người sẽ giúp tìm lời giải đáp đưa đất nước, dân tộc thực sự đạt được dân chủ, tiến bộ đích thực.
Bản chép lại của Đối Thoại:
BBC: Thưa ông, sắp tới đây thì như ông biết là Việt nam sắp sửa hiến pháp. Bây giờ có ý kiến đặt ra, có ít nhất là hai luồng, một luồng đặt ra là sửa, luồng thứ hai nói rằng là bây giờ phải làm mới hoàn toàn. Ý kiến của ông với tư cách một nhà nghiên cứu xã hội Việt Nam thì như thế nào?
Lữ Phương: Hầu hết ý kiến của những người quan tâm đến vấn đề này ở Việt Nam thì đều cho rằng trong vấn đề sửa đổi hiến pháp thì cũng đã có tiền lệ rồi. Đó là hiến pháp của HCM sau cách mạng 45. Nếu bây giờ phải thay đổi thì nên dựa vào hiến pháp đó để tu sửa. Bởi vì hiến pháp đó nó là một cái bản lề rất lớn. Tức là nó chấm dứt thời kỳ đô hộ của chủ nghĩa thực dân, nó cũng chấm dứt thời kỳ thống trị của chế độ xã hội cũ là chế độ phong kiến để nó mở đầu một cái bản lề biến xã hội vào thời kỳ hiện đại. Với những nguyên lý mà ngày nay đã trở thành phổ biến ở trên tất cả các hiện đại rồi.
Đó là ý kiến rất quan trọng bởi vì đó là cái móc rất quan trọng. Theo tôi, tôi cũng tán thành những ai cho rằng nếu mà thay đổi hiến pháp lần này thì phải trở về cái hiến pháp năm 45 đó để tu bổ trên cơ sở đó và hiện đại hóa cho nó thích hợp với tình thế hiện đại của thế giới ngày nay.
BBC: Thưa ông, mọi người cũng bàn đến một chuyện nữa, tức là sửa đổi điều 4 của hiến pháp. Đây là câu chuyện rất là lâu rồi. Theo ông nếu sửa đổi thì sửa đổi như thế nào cho nó căn bản?
Lữ Phương: Cái này bây giờ bàn rất khó bởi vì nếu bây giờ ta bỏ điều 4 hiến pháp thì có nghĩa là ta đi hẵn. Bỏ là bỏ theo nghĩa nào? Bỏ theo nghĩa là không ghi vào văn bản nữa mà người ta cứ thực hiện thì như thế nào? Vấn đề bỏ hay không bỏ do đó không quan trọng mà là thực hiện như thế nào, thực chất của vấn đề dân chủ ở trong tình hình mới như thế này.
Trong này nó cũng có hai ý kiến. Tức là nếu bây giờ chúng ta trở lại năm 1945, hiến pháp lúc bấy giờ thì chúng ta phải thực thi đa đảng bởi vì Hồ chủ tịch bấy giờ là chủ trương đa đảng, có những đảng Dân Chủ, đảng Xã Hội và những đảng khác vân vân… quốc hội rất nhiều những thành phần khác nhau. Do đó là chủ trương đa đảng.
Một cái thứ hai nữa là bây giờ mình từng bước mình đi đến đó thì bước đầu tiên thiết thực nhất là chuẩn bị con đường đi đến đó, cái con đường đi đến đó mới rất quan trọng. Có thể bây giờ là trong lúc thời kỳ quá độ đảng cộng sản chưa thừa nhận một thực tại mới tức là chấp nhận những sự hợp tác hay sự tồn tại, chung sống với tất cả những đảng khác thì bây giờ đảng cộng sản phải luật hóa cái đảng của mình. Tức là lãnh đạo trong luật, tức là những phần nào là phần quy định bằng luật pháp chớ không phải như bây giờ. Bây giờ nói rằng đảng sống trong luật pháp nhưng thật sự lá dấm da dấm dúi,  là nói như thế nhưng bên trong vẫn đen tối, vẫn dùng những thủ đoạn âm thầm, mờ ám để thao túng xã hội.
Do đó vấn đề thiết thực bây giờ, cái đầu tiên phải đặt vấn đề là luật hóa cái đảng, luật hóa luôn cả những thành phần xã hội khác. Họ tồn tại như thế nào? Không phải là tồn tại ở trong vòng tay, trong ô dù hay do sự thao túng hay vệ tinh hay tay sai gì nhưng mà thừa nhận sự tồn tại độc lập của các đoàn thể chính trị xã hội trước. Tôi nghĩ đó là cái đầu tiên để đưa đến dần dần hình thức nhiều đảng phái khác nhau.
Cái quan trọng nhất trong cơ sở nền tảng để làm điều này là thừa nhận sự lớn mạnh của xã hội công dân. Một xã hội của các đoàn thể dân chúng, các tầng lớp dân chúng họ tự động họ tham gia vào việc quản lý nhà nước.
Thí dụ như bây giờ đứng trước một sự suy đồi xã hội như thế thì những phong trào như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, hay những đoàn thể khác họ đứng ra làm công việc đó. Tức là việc đầu tiên phải chuẩn bị đó là phải hạn chế sự thao túng của sự lãnh đạo của đảng đối với toàn xã hội và đối với các đoàn thể khác để dần dần bước lên, dần dần thực hiện, phải thực hiện công thức là sự độc lập của xã hội công dân và đưa đến dần dần những đoàn thể chính trị khác ra đời để đi đến một chế độ đa đảng, dân chủ.
BBC: Thế còn về vấn đề bầu quốc hội và tìm chọn để bầu ra những đại biểu quốc hội thật sự của dân thì bây giờ phải làm gì để nó có được sự thực chất ạ? Tức là cải tổ như thế nào từ khâu bầu cử để tránh cái chuyện mà người ta vẫn nói là tình trạng dân chủ hình thức hoặc thậm chí có người nói là giả hiệu, thưa ông.
Lữ Giang: Bây giờ cái quan trọng nhất là Mặt trận Tổ quốc. Muốn thay đổi là phải có hiến pháp quy định cái Mặt trận Tổ quốc không phải là cái màng lọc, không phải là cái màng lọc để khử đi những phần tử mà đảng không thích. Tức là phải để cho tranh cử tự do, các nhân vật hay đoàn thể nào khác họ tranh cử tự do, và quốc hội biến thành thật sự của dân. Của các lực lượng dân khác nhau, các tầng lớp, thành phần khác nhau, không chịu sự thao túng của đảng như bây giờ.
Quốc hội này nó cũng nằm chung trong hiến pháp đó, tức là hiến pháp phải quy định hẳn hòi điều này. Ngay cả chuyện tam quyền phân lập cũng phải thực hiện. Tức là sự độc lập của các quyền lực chánh trị của các phe khác nhau, không phải gôm về một mối như bây giờ là sự thao túng của đảng được. Cái hình thức đó nó lộ liễu, trắng trợn quá rồi, phải nói là nó lại làm hại cho nên bây giờ phải từng bước, từng bước nào đó để thực lòng thay đổi từng bước một. Cái này thì đã được thừa nhận về lý luận mà bây giờ dưới sự lãnh đạo của đảng là không thừa nhận trên thực tế. Gọi là nói bên ngoài, nói miệng, nói để ru ngủ, nói là mình cũng dân chủ nhưng thật sự bên trong là thao túng hết. Cho nên tôi gọi là dân chủ giả hiệu là đúng hoàn toàn.
BBC: Thưa ông nếu xét về thời điểm này thì nếu như nhìn vào chủ nghĩa Marx như một công nghệ để quản trị, quản lý và thống trị, thì theo ông nó có điểm bất cập gì đối với thực tế ở Việt Nam? Vào theo ông thì liệu tương lai của chủ nghĩa Marx đứng đàng sau và được sử dụng bởi cái đảng lãnh đạo ở Việt Nam thì tương lai của nó đến đâu và như thế nào?
Lữ Phương: Tôi cũng có quan tâm đến vấn đề này mà tôi thấy chủ nghĩa Marx thì nó chẳng dính dấp gì đến thực tại Việt Nam cả. Trước nhất là những người mà họ nhân danh chủ nghĩa Marx để họ quản lý xã hội và lãnh đạo xã hội, họ cho rằng tiến lên chủ nghĩa xã hội này đó là những người nói một cách cho nó văn vẻ chút xíu là họ ngộ nhân, họ hiểu lầm, họ không hiểu gì cả. Mà nếu nói trắng ra thì gọi là họ lợi dụng, họ bóp méo hoàn toàn. Chủ nghĩa Marx không dính dấp gì, nói là chủ nghĩa Lenin, Stalin hóa và nói là của Mao Trạch Đông… Cho nên những người nào mà nhân danh cái này để gọi là lãnh đạo Việt Nam thì hoàn toàn không có cơ sở thực tế. Và còn những người nào mà qua thực tế lãnh đạo nhân danh chủ nghĩa Marc này để phủ định Marc, để phê phán một cách vội vàng cũng không đúng luôn.
Tức là ý của tôi là chủ nghĩa Marx không dính dấp gì đến xã hội Việt Nam cả. Cho nên họ không thể nhân danh chuyện này để lãnh đạo đất nước, đưa đất nước đến tương lai cả.
Tôi đã nghiên cứu và tôi thấy nó là một sản phẩm của Tây phương ở trong một thời kỳ nào đó ở thế kỷ XIX với những điều kiện nó ra đời như thế. Nó không dính dấp gì đến một đất nước thứ ba, nghèo khổ này cả. Nếu ai mượn những điều này để nói thì đều là ngộ nhận hoặc là lừa dối huyễn hoặc thôi.
Thực chất của vấn đề Việt Nam bây giờ không phải là vấn đề Marx hay không Marx mà là độc tài với phát triển hay không phát triển, vấn đề độc tài hay dân chủ. Vấn đề là tầng lớp lãnh đạo có đủ lực để tập hợp dân chúng để tìm ra mô hình mới, hiện đại hóa cái đất nước này, đưa đất nước này vào trào lưu của thế giới hiện đại hay không mà thôi, chớ chẳng dính dấp gì đến Marx hay gì cả.
BBC: Thưa ông, câu trả lời của ông gợi ý cho chúng tôi một suy nghĩ này: ta tạm dùng một từ tạm gọi là dân gian là ‘kính chiếu yêu’, nếu bây giờ ta dùng chủ nghĩa Marx thật sự, dùng đó như một kính chiếu yêu chiếu thẳng vào tầng lớp thống trị hiện nay, đảng hiện nay thì ta nhìn thấy những cái gì và cái thứ hai là ta có nhìn thấy xung đột như thế nào đó, với thân phận như thế nào đó của những người bị trị ở Việt Nam hiện nay, thưa ông?
Lữ Phương: Bây giờ người ta có thể dùng cách này, ta dùng ngay chủ nghĩa Marx để người ta rọi vào cái xã hội Việt Nam hiện nay. Tôi đã nghiên cứu, tôi đã dùng cách này, tức là dùng khái niệm chính của Marx gọi là một cái ‘phóng chiếu lộn ngược’. Tức là anh nhân danh những điều thế này những điều thế khác nhưng trong thực tế nó ngược hết hoàn toàn. Thí dụ như Marx nói rằng xã hội công nhân sẽ từ từ làm chủ và nó sẽ nuốt chửng nhà nước thì bây giờ ở đây nhà nước này nó hoàn toàn thành tuyệt đối, nó vĩnh viễn, không có thay đổi gì cả!. Thí dụ như nói giai cấp công nhân lãnh đạo thì bây giờ giai cấp công nhân lại bị bần cùng hóa và người ta đang phải đấu tranh chống lại chủ nghĩa “tư bản man rợ” hiện giờ. Nông dân cũng vậy. Lenin bây giờ là cướp đất cướp nhà người ta. Cho nên đấy là một cái phóng chiếu, một cái phóng chiếu lộn ngược lại hoàn toàn.
Đó là mình dùng một hình ảnh để so sánh vậy thôi. Điều đó chứng tỏ rằng giới lãnh đạo này hoàn toàn không phải nhân danh chủ nghĩa Marx mà họ chỉ lợi dụng, khâu trử.. cuối cùng họ nói nhiều đến Marx cốt ý để duy trì cái chuyên chính vô sản thôi. Nhưng thật sự cũng không có vô sản nữa, không có vô sản nào ở đây cả mà chỉ là chuyên chính của một đảng nhà nước. Sở dĩ họ nói đi nói lại hoài, cứ nói là phải kiên trì là chỉ như thế mà thôi chớ còn toàn bộ nội dung của Marx về xây dựng một xã hội thế này thế khác này nọ là hoàn toàn không có.
BBC: Bây giờ nếu như ông có thể giải thích cho những người nông dân hoặc những người công nhân hoặc những người trong giai cấp bị trị ở Việt Nam hiện nay, nếu dùng chính cái lăng kính như ông nói tức là chính cái chủ nghĩa Marx, nhìn vào họ thì có thể thấy cái tình huống của những người bị trị nó ra sao ạ?
Lữ Phương: Tôi thì không nghĩ rằng người ta dùng chủ nghĩa Marx để giải thích cái xã hội Việt Nam này. Mình nên so sánh để mình chứng minh rằng những người cầm quyền, hay những nhà ý thức hệ này cứ đem Marx ra mà nói rằng phải tiến lên thế này thế khác là nó không thích hợp. Tức là nó không biện minh được cho sự lãnh đạo của mình.
Ý của tôi là bây giờ mình phải bỏ tất cả những khái niệm gọi là ý thức hệ để nhìn vào cái thực tiễn của Việt Nam. Vậy thì cái thực tiễn của Việt Nam nó là gì? Theo tôi nó là một thứ chủ nghĩa tư bản, bây giờ đảng CSVN đã bỏ hẳn và không có dính dấp gì đến Marx-lênin cả, không dính dấp gì đến lý tưởng cả nữa. Bây giờ nó trở thành một cái tập đoàn xây dựng một chủ nghĩa tư bản người ta gọi là “tư bản man rợ”, “tư bản rừng rú”. Ví dụ như  vấn đề cướp đoạt ruộng đất của nông dân để công nghiệp hóa chẳng hạn hay biến giai cấp nông dân thành công nhân đô thị nghèo khổ chẳng hạn… đó là chủ nghĩa tư bản man rợ, chủ nghĩa tư bản này ở thế kỷ XIX nó đã vượt qua rồi.
Nhưng chính chỗ này nó đặt một tiền đề ngược lại. Vấn đề bây giờ không phải là nói Marx hay không Marx, tiến lên chủ nghĩa hay không mà là chống chủ nghĩa tư bản man rợ để xây dựng một chủ nghĩa tư bản văn minh – dân chủ và văn minh. Tôi nghĩ vấn đề Việt Nam thực tế nên đặt ra như vậy thì nó có cơ sở để giải quyết rất là vững vàng. Nếu mà chúng ta cứ rơi vào những cuộc tranh luận ý thức hệ rồi thì hoàn toàn bế tắt, không giải quyết được gì cả.
BBC: Vâng, thưa ông, hồi nãy thì ông có nói tới cái lộ trình của Việt Nam để đi tới thay đổi, cải cách. Trong đó thì các thành phần kể cả các thể chế xã hội khác nhau trong đó đều có vị trí của mình. Vừa rồi thì như ông biết là có tranh luận về trí thức và giai trò phản biện của trí thức có hay không, ở bản thân tầng lớp trí thức có hay không, rồi vai trò lãnh đạo của đảng với trí thức. Theo ông thì bây giờ giới trí thức của Việt Nam nên làm cái gì, hành động gì vào thời điểm của Việt Nam hiện nay của đất nước và thứ hai là họ có nên khoang dung với nhau không. Trí thức ở trong nước, ngoài nước rồi thì trí thức trong đảng, ngoài đảng có nên khoang dung và có nên có được một cái tạm gọi là một cái “đề ba” cuộc cái đàm luận chung hữu ích hơn cho đất nước hay là không?
Lữ Phương: Tôi thấy thì vấn đề này cực kỳ phức tạp bởi vi theo nhãn quan của mỗi thành phần tham dự vào cuộc đổi mới này, canh tân hơn nữa là của mọi người trong hay ngoài đều muốn hay đổi chế độ này, tức là thay đổi từ nền tảng chớ không phải chấp vá thay đổi, nhưng lộ trình như thế nào tôi thấy có nhiều ý hướng khác nhau như tôi đã có viết trong đó là họ muốn giải thể, giải thể và giải thể mà tôi không hiểu là giải thể bằng cách nào bây giờ ? Cứ nói và chỉ trích những gì liên can tới chế độ này, báo chí thì qui cho mấy trăm tờ báo đều lề phải cả, nhưng không hiểu rằng trong những tờ báo này có sự nỗ lực của người ta nhưng mà có những bài có những nổi xót xa trong cái ràng buộc người ta để người ta đâu tranh (thí dụ vậy), người ta cũng tìm cách đưa tin vượt qua những ngăn cản mà cứ chửi người ta là tôi thấy không được.
Thứ hai là trí thức bây giờ người ta phải sống trong chế độ này người ta không bỏ nước đi được, ai bỏ nước đi ra ngoài sinh sống làm ăn tự do thì họ có cách suy nghĩ của họ như hận thừ quá khứ hay quan niệm của họ thì họ cứ nói, nhưng trong nước này không nói như ở ngoài được, người ta phải lựa lời nói trong mức độ nào đó, nói mà người khác nghe được hoặc là nói để chuẩn bị giữ gìn bản thân mình (chẳng hạn vậy), cái này ở trong nước mới hiểu được.
Bao nhiêu năm trời đấu tranh, toàn bộ thay đổi đều do trong nước, tôi thí dụ Kim Ngọc, Kim Ngọc đâu đòi giải thể nhưng mà ổng đưa ra một cái rất lớn là cái khoán mà từ dó cách riêng biệt hẵn hòi, hay là ông Võ Văn Kiệt chẳng hạn, ổng đưa ra những cái chế tạo này nọ dần dần mở ra hoạt động kinh tế và những cái ngày nay ta có đều do những cuộc đấu tranh từng bước, từng bước gian khổ ở Việt Nam này, không phải là trả giá, Kim Ngọc trả giá và bao nhiêu người trả giá cho chuyện này mà chúng ta có được ngày nay
Cho nên tôi nghĩ bây giờ mỗi một nơi, mỗi một vị trí, mỗi một người, bất cứ nơi đó mình đấu tranh theo quan điểm của mình, quan trọng nhất là thuyết phục, nói năng làm sao, đấu tranh làm sao cho có người ta nghe mình, chứ mình nói cho sướng miệng, chửi bới lung tung thì không có ai nghe cả,
Tôi nghĩ đoàn kết hay không đoàn kết trên cơ sở là có lý trí, phải hiểu biết lẫn nhau, hiểu biết tình thế cụ thể chớ không có qui chụp, kết án nhau căn cứ vào một số khái niệm cho là văn minh, tiến bộ rồi qui kết người khác đó là mầm móng của sự chia rẽ và tôi nghĩ là mình nên ý thức điều đó, chấm dứt việc mất đoàn kếcho cuộc dân chủ hóa nói chung.
BBC: Nãy giờ chúng ta cũng bàn luận, nhắc tới chủ đề về đảng cs, về Max, v.v.., các khía cạnh. Xin hỏi ông là Việt Nam người ta cũng đặt những phản biện, góp ý là cho Đảng vào trung tâm, bên cạnh đó có nên đặt cho dân tộc Việt Nam bây giờ nên phải làm gì và góp ý cái gì, đưa ra những khuyến nghị gì ?, thậm chí là cầm tay giúp đỡ gì cho nhân dân, cho dân tộc tiến bộ mà đạt được mục tiêu mà dân tộc mong muốn, thưa Ông ?
Lữ Phương:  Có rất nhiều người, chính yếu bây giờ cái cản trở hóa trình tiến hóa của dân tộc Việt Nam, của đất nước mình đi vào con đường hiện đại như là khởi đầu của chúng ta như 1945,  bây giờ bị khựng lại vì rất nhiều lý do
Sự suy thoái toàn bộ của lãnh đạo đảng, cho nên những trí thức họ thấy đó là vấn đề bức xúc, họ thấy trước mắt cái khó khăn là phải tập trung tháo gỡ, (tháo gỡ ở đây xin quí vị đừng có hiểu lầm là nói cho đảng nghe đâu!) mà chính là phảI vận động, vận động ở những đảng viên trong đảng này, tức là làm cho họ thấy được những vấn đề đất nước và họ tự thay đổi, làm cho họ ý niệm vấn đề cần thay đổi, đó là bước thiết thực nhất
Còn vấn đề quần chúng thì có những đoàn thể họ lo, nhưng tôI nghĩ những trí thức này họ chưa đặt thành vấn đề đâu, có lẽ là sau này cũng phảI đặt ra như thế nào ?
BBC: Xin hỏi Ông câu cuối là theo nhãn quan cũng như sự suy cảm của Ông thì liệu bao giờ thì Việt Nam có thể tiến tới điều mà trong phần đầu cuộc trao đổi này Ông đã nói tới trong đó Việt Nam đạt được chỉ tiêu của mình chẳng hạn như tiến tới một xã hội dân chủ, văn minh. Có người đặt vấn đề nó không phải là chủ nghĩa tư bản như ban đầu mà phải là tư bản xã hội, hoặc nhiều người nói là xã hội minh triết, văn minh, v.v…, trong đó có tam quyền phân lập, có nhiều đảng phái cạnh tranh một cách lành mạnh, có những đảng đối lập được công nhận, xã hội dân sự được thừa nhận, các quyền cơ bản của người dân được đảm bảo, v.v….. Theo Ông, bao giờ Việt Nam sẽ tiến tới được điều đó ?
Lữ Phương: Câu đó rất là khó trả lời, không thấy lúc nào đạt được đâu?. Bởi vì vấn đề dân chủ không phải là chiến tranh, tôi có kinh nghiệm trải qua chiến tranh, chiến tranh có thế nào đi nữa cũng có thời gian chấm dứt, nhưng dân chủ thì hang loạt những vấn đề
Đảng này là một yếu tố thôi, còn dân trí, các tầng lớp trí thức, các tầng lớp khác, hàng loạt những vấn đề khác nhau. Không phải có những nơi là cuộc đảo chánh xong rồi người ta tổ chức đa đảng ra bầu cử đâu vào đó rồi, nhưng mà người ta vẫn dẫm chân một chỗ với những tệ nạn, những khuyết tật, bệnh trầm kha của một xã hội chậm tiến chẳng hạn. Cho nên vấn đề này không thế nói lúc nào là văn minh được, …..
Nhưng có một yếu tố quyết định thế này, ý của tôi là mấu chốt giải quyết vấn đề vẫn là một xã hội dân sự, tôi thích một xã hội công dân hơn bởi vì đặt trước mặt nhà nước, công dân và nhà nước
Bây giờ nếu tất cả con người trong đất nước này như nông dân, trí thức làm công việc của mình, đảm nhận công việc mình mà lên tiếng sẽ có một xã hội trưởng thành lên, tự động giải quyết vấn đề với mình và vì những công dân có ý thức để không có áp bức, không uyển hoặc được mình thì trở thành xã hội lành mạnh, như vậy đó là yếu tố quan trọng nhất để bảo đảm rằng chính quyền tương lai không quay trở lại sau những cuộc đảo chánh hay những cuộc bầu cử mà nó quay trở lại chế độ độc tài cũ mà việc này việc này lịch sử đã diễn ra và diễn ra rất gần cho nên căn bản phải chuẩn bị cho sụ rưởng thành của một công dân trong đó có đội ngủ trí thức là những người đi đầu của mình, người tiền phong đi đầu để vận động
Cái này là cơ bản và chừng nào giải quyết thì phải tới điều này chớ không phải tính bằng những cuộc bầu cử hay là những việc khác mà tính bằng cái tự do mà mỗi ngày chúng ta có được trong vòng tay của mình, đi lại tự do, nói năng càng ngày càng dễ thở hơn, càng ngày càng tốt hơn. Cái đó chuẩn bị dần dần cho như là chữ I mà mình chấm một chấm thì đó sẽ hoàn thành
Bây giờ nói về thời điểm nào thì tôi nghĩ rằng cũng không thể nói được.
___________________________________________________________

Đứng lên bằng cách nào?

Sự kiện gia đình nông dân họ Đoàn tại Tiên Lãng, Hải Phòng, ngày 05/01/2012, đứng lên cầm súng bắn thẳng vào người của nhà nước là một dấu chỉ đậm cho thấy sự cấp thiết toàn dân phải đứng lên chống lại sự bạo ngược, phản động của nhà nước hiện hành.
Nhưng đứng lên bằng cách nào? Có cách nào huy động được toàn dân cùng đứng lên?
Chống trả bằng vũ khí nóng thô sơ như gia đình họ Đoàn vừa mới làm hay tổ chức các cuộc nổi dậy, đốt phá, uy hiếp các viên chức nhà nước như ở Thái Bình năm xưa? Có cách nào khác tốt hơn không? Chắc chắn đây đều là những câu hỏi đang xâm chiếm suy nghĩ của nhiều người Việt Nam.
Để góp một phần nhỏ vào việc giải đáp những câu hỏi ở trên và những băn khoăn tương tự, Đối Thoại xin trân trọng giới thiệu chuyên mục “Đấu tranh Bất bạo động để Cứu nước”, sẽ khởi sự từ ngày 03 tháng 03 năm 2012. 
“Đấu tranh Bất bạo động để Cứu nước” sẽ cung cấp, chia sẻ với độc giả những kiến thức, quan điểm, kinh nghiệm và các nghiên cứu liên quan tới phương thức Đấu tranh Bất bạo động – một phương thức đã chứng tỏ được tính hiệu quả, ưu việt và văn minh trong sự đối đầu, bãi bỏ những thể chế độc tài lỳ lợm nhất của loài người. 
Đối Thoại hy vọng sẽ nhận được thêm giúp đỡ, góp ý của độc giả, các nghiên cứu gia cho chuyên mục này và Đối Thoại xin cảm ơn trước sự tiếp tay của các trang nhà trong việc chia sẻ, truyền tải nội dung của “Đấu tranh Bất bạo động để Cứu nước” tới quảng đại quần chúng.
Trân trọng
Đối Thoại

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: