RFA ngày 10/02/2011

·         Cứu lấy sông Mekong bằng cách nào (phần 1)?

·         Cứu lấy sông Mekong bằng cách nào (phần 2)?

·         Bức thư chung kêu gọi đưa VN vào danh sách CPC

·         Ai Cập: Nghịch Lý của Cải Cách

Cứu lấy sông Mekong bằng cách nào (phần 1)?

Ngọc Trân, thông tín viên RFA
2011-02-09
RFA
Sông Mekong đã và đang có những đóng góp quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội cho Việt Nam.

AFP
Sông Mekong trên địa phận Trung Quốc, bến phà

Lancang bên trái phía phải sông là tỉnh Guanlei, Miến Điện

Bên cạnh việc cung cấp nước cho vựa lúa lớn nhất là Đồng bằng Sông Cửu Long, với khoảng 80% lượng gạo xuất khẩu trên cả nước, sông Mekong còn cung cấp nước để khai thác và nuôi trồng thủy sản, đóng góp không nhỏ cho ngành xuất khẩu thủy sản trên cả nước.
Những đóng góp quan trọng của con sông Mekong cho sự phát triển ở Việt Nam nói riêng, và các nước trong khu vực nói chung, có lẽ sẽ không còn nữa nếu như chúng ta không có những hành động kịp thời để cứu lấy con sông, khi mà lượng nước đổ về hạ lưu Mekong đang ngày càng cạn kiệt. Thông tín viên Ngọc Trân phỏng vấn kỹ sư Phạm Phan Long, Chủ tịch Hội Sinh thái Việt, để làm rõ thêm một số vấn đề liên quan đến con sông này. 

Mekong cạn dòng

Ngọc Trân: Thưa ông Phạm Phan Long, theo thông tin từ Ủy hội sông Mekong (Mekong River Commission – MRC), một tổ chức gồm bốn nước: Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan, hồi tháng 11 năm ngoái cho biết, mực nước tại trạm quan trắc Chiang Saen, nơi gần biên giới Trung Quốc, đang từ 4 mét, hiện đã giảm xuống chỉ còn 2 mét, tức giảm khoảng 50%. Mực nước ở tất cả các trạm từ Chiang Saen đến Tân Châu hiện cũng đã giảm từ khoảng 50% đến 70%. Riêng mực nước tại các trạm Vientian, Savanakhet, Tân Châu đã giảm đáng kể, xuống chỉ còn dưới 1 mét.

Uỷ Hội Sông Mekong có hai trụ sở chính một ở Campuchia và một ở bên Lào.

Hiện mực nước ở các vùng hạ lưu đã giảm xuống bằng mực nước những năm hạn hán 1992-1993 và 2003-2004. Năm ngoái, hạn hán đã gây thiệt hại nặng cho các khu vực hạ lưu và điều này sắp tái diễn trong năm nay. Biển Hồ Tonle Sap và vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ ra sao trong tương lai, thưa ông?
Ông Phạm Phan Long: Nếu lưu lượng nước tiếp tục giảm như thế, lưu vực sẽ đi đến chết khát. Nông nghiệp, chăn nuôi và ngư nghiệp, ba kế sinh nhai truyền thống ngàn đời của sáu mươi triệu dân cư lưu vực sẽ bị đe dọa.
Nạn nghèo, đói, thiếu nước và bệnh tật sẽ hoành hành cùng các hệ quả xã hội xấu đi kèm theo sau. An toàn thực phẩm và nguồn nước sẽ suy thoái đến độ dân cư không còn sinh sống được nữa. Ký giả, tác giả và đạo diễn Tom Fawthrop đã ghi nhận tình cảnh này trong phim tài liệu “Cá đã đi về đâu?” và BS Ngô Thế Vinh, tác giả “Dòng Sông Nghẽn Mạch”, cho rằng trái tim Biển Hồ sẽ dần dần ngừng đập.

Đâu là nguyên nhân?

Ngọc Trân: Đâu là nguyên nhân gây ra nạn hạn hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra và ngày càng khắc nghiệt trong những năm qua, thưa ông?
Ông Phạm Phan Long: Đã có rất nhiều tường trình khoa học nêu ra các nguyên nhân chính, cả thiên tai lẫn nhân tai. Thứ nhất, do biến đổi khí hậu bất thuờng, cho nên cả lưu vực có ít mưa hơn. Kế đến là nạn phá rừng đã làm biến mất thảm thực vật, vốn là kho trữ nước tự nhiên của lưu vực. Thứ ba là do các hồ chứa nước ở thượng nguồn, đã tích nước lại quá nhiều và quá nhanh. Và thêm một nguyên nhân nữa đó là, nước được chuyển ra khỏi dòng chính để canh tác. Tất cả đã góp phần gây hạn hán cho khu vực hạ nguồn sông Mekong.
Ngọc Trân: Ông vừa nhắc đến các tường trình khoa học về nguyên nhân gây ra hạn hán, lũ lụt ở hạ nguồn

Đập Nam-Theun cua Lào trên sông Mekong. RFA

Mekong, theo các báo cáo của giới khoa học thì một trong những nguyên nhân chính gây nguy hại cho các nước hạ nguồn là việc phát triển các đập thủy điện ở thượng nguồn. Trên các con đập này, Trung Quốc đã cho xây trên dòng chính nhiều hồ lớn chứa nước rất lớn, vậy ông có biết Ủy hội sông Mekong đã đối phó với việc này ra sao?
Ông Phạm Phan Long: Suốt hai thập niên qua, trên thượng nguồn thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, đã cho xây các đập Mãn Loan hồi năm 1993, đập Đại Chiếu Sơn năm 2001, đập Cảnh Hồng năm 2004, đập Tiểu Loan năm 2010 và đập Nọa Trác Độ sẽ hoàn tất trong năm 2014.
Mãi cho đến năm 2009, Ủy hội sông Mekong đã không làm nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường chiến lược (Strategic Environmental Assessment – SEA) cho các dự án xây đập thủy điện nào ở tỉnh Vân Nam. Ủy hội sông Mekong cũng không phê bình Trung Quốc về việc thiếu nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường đối với các nước hạ lưu.
Tổ chức này cũng không hề chất vấn Trung Quốc về những hứa hẹn tốt đẹp của các đập ở tỉnh Vân Nam cho hạ lưu mà dân cư Mekong chưa bao giờ được thấy.
Các nước hạ lưu như Thái, Lào và Việt Nam đã xây nhiều đập trên các phụ lưu của từng nước, nhưng không có đánh giá tác động môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế và các nước này đang đưa ra một dự án, xây thêm

Thác Khone của sông Mekong trên địa phận Lào.

mười một đập ngay trên dòng chính.
Mãi đến tháng 10 năm ngoái, Ủy hội sông Mekong mới đưa ra tường trình, thẩm định tác động môi trường 2010 của tám đập thượng nguồn ở tỉnh Vân Nam và mười một con đập ở hạ lưu sông Mekong.

Mời các bạn tìm hiểu cội nguồn sông Mekong qua video
“Nhật ký sông MêKông (phần 1): Cội Nguồn”, do RFA thực hiện.Trong bản đánh giá này, Ủy hội sông Mekong đã khuyến cáo bốn nước hạ lưu nên hoãn kế hoạch xây các đập trên sông Mekong trong mười năm, nhưng tiếc rằng họ đã không đề nghị Trung Quốc cùng ngưng xây đập hay cùng hợp tác với họ để bảo vệ hạ lưu sông Mekong.

Trung Quốc thiếu hợp tác với các nước hạ lưu

Ngọc Trân: Được biết, Trung Quốc vẫn cho rằng các hồ thủy điện trên phần đất Trung Quốc không gây tác động nào đối với các nước hạ nguồn mà còn giúp khu vực này có thêm 40% lưu lượng nước vào mùa khô và tránh lụt lội vào mùa mưa.
Một số tin tức cho biết, phía Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với các nước hạ lưu qua việc cung cấp thông tin về các con đập thượng nguồn cho Ủy hội sông Mekong, cũng như hồi mùa Hè năm ngoái, Trung Quốc đã mời các chuyên gia Ủy hội sông Mekong đến thăm hai đập Cảnh Hồng và Tiểu Loan, nhằm chứng minh rằng họ không tích nước gây hạn hán cho hạ lưu. Vậy quan điểm của ông, cũng như quan điểm chung của giới khoa học về vấn đề này như thế nào?
Ông Phạm Phan Long: Tường trình khoa học về đánh giá tác động môi trường 2010 của Ủy hội sông Mekong đã xác định, tám đập Vân Nam sẽ giữ lại 80% lượng phù sa, không chảy xuống hạ lưu, gây ra 50% thất thoát trong thu hoạch ngư nghiệp.

Những nhánh nhỏ của sông Mekong cũng nuôi sống biết bao gia đình vùng ĐBSCL. RFA

Hệ quả còn nặng hơn nữa, là vì ngư sản là nguồn cung cấp chất đạm chính cho dân cư trong khu vực, khi tính đến gia tăng dân số, thu hoạch ngư nghiệp tính trên đầu người so với năm 2000, chỉ còn có khoảng 60% vào năm 2015, còn 40% vào năm 2030.
Từ 1995 đến nay, Trung Quốc đã xây bốn hồ chứa, có tổng dung tích gần 18 tỉ mét khối, nhưng qua tám mùa hạn hán trong 15 năm qua, chưa năm nào thấy Trung Quốc xả nước từ các hồ chứa đó để giúp các nước hạ lưu, cũng chưa có năm nào Trung Quốc giúp khu vực hạ lưu tránh được lũ lụt.
Thêm vào đó, mực nước lên xuống thất thường từ Trung Quốc đã gây khó khăn cho hai nước Thái Lan và Lào.
Mặc dù Trung Quốc có mời Ủy hội sông Mekong đến thăm hai đập Cảnh Hồng và Tiểu Loan ở Trung Quốc hồi tháng 6 năm 2010, nhưng Trung Quốc đã không cho các chuyên gia của Ủy hội được tự do quan sát và nghiên cứu. Nếu Trung Quốc thực tâm muốn hợp tác, họ đã mời các chuyên gia đến quan sát tất các hồ chứa nước ở Vân Nam, gồm các đập Đại Chiếu Sơn, Mãn Loan và Nọa Trác Độ, để công khai với các nước rằng, Trung Quốc không có gì để che giấu.
Về thông tin Ủy hội sông Mekong xin các dữ kiện thủy văn của Trung Quốc và năm ngoái Trung Quốc có hứa cho Ủy hội các dữ kiện này, nhưng phía Trung Quốc chỉ cung cấp các dữ kiện được vài tháng rồi thôi. Phía Trung Quốc đã ngừng cung cấp các dữ kiện nói trên kể từ tháng 10 năm 2010 mà không hề đưa ra một lời giải thích nào cho công chúng.
Sự việc này cho thấy, Trung Quốc không những đã không còn hợp tác với Ủy hội như họ đã tuyên bố, mà còn tạo thêm mối nghi ngờ cho các nước ở hạ lưu ngày càng sâu hơn.
Con sông đã và đang nuôi sống hàng chục triệu cư dân ở các nước hạ nguồn đang từ từ bị giết chết. Trách nhiệm này thuộc về ai? Chính phủ và người dân ở các nước trong khu vực cần làm gì để cứu lấy sông Mekong trước khi quá muộn? Đó sẽ là nội dung của bài kế tiếp.

Theo dòng thời sự:

Cứu lấy sông Mekong bằng cách nào (phần 2)?

Ngọc Trân, thông tín viên RFA
2011-02-10

RFA
Nguồn nước trên sông Mekong đã và đang nuôi sống hàng chục triệu cư dân ở các nước hạ nguồn, đang dần dần cạn kiệt. 

RFA file
Phía bắc Vân Nam, là những dãy núi băng tuyết là nguồn nước rót vào đầu nguồn sông Meko

Ai sẽ chịu trách nhiệm về cái chết đã được báo trước của con sông này? Các nước hạ nguồn nên có những hành động gì trước khi quá muộn? Mời quý vị theo dõi tiếp cuộc trao đổi giữa Thông tín viên Ngọc Trân với kỹ sư Phạm Phan Long, Chủ tịch Hội Sinh thái Việt.

Trách nhiệm thuộc về ai?

Ngọc Trân: Thưa ông, trước thảm trạng thiên tai lẫn nhân tai xảy ra trên sông Mekong, ai sẽ là người chịu trách nhiệm? Chính phủ ở các nước hạ nguồn và Ủy hội sông Mekong đã làm gì để đối phó với sự cạn kiệt nguồn nước, môi trường ô nhiễm, đe dọa hàng chục triệu cư dân trong khu vực?
Ông Phạm Phan Long: Chính quyền các nước hạ nguồn sẽ phải nhận hoàn toàn trách nhiệm với dân cư lưu vực. Bốn nước hạ lưu như Việt Nam, Cam Bốt, Lào và Thái Lan đã ký Hiệp định sông Mekong từ năm 1995 và giao phó cho Ủy hội sông Mekong nhiệm vụ khuyến khích phát triển bền vững. Nhưng thực tế từ năm 1995 đến nay, Mekong đã phát triển không bền vững. Số lượng ngư sản đánh bắt đã giảm 50% và trọng tải phù sa cũng đã giảm 80%, trong khi nước mặn tiếp tục lấn sâu vào lục địa, phá hủy kinh tế nông nghiệp ở Đổng bằng Sông Cửu Long. Môi trường và tài nguyên thiên nhiên ở vùng hạ lưu đã liên tục bị suy thoái trong suốt thời gian kể từ khi Ủy hội sông Mekong thành lập.

Ủy hội sông Mekong, trụ sở ở Vientiane Lào. RFA file

Ủy hội sông Mekong có chương trình quản trị hạn hán (Drought Management Plan – DMP) và lũ lụt (Flood Management Plan – FMP), thế nhưng các chương trình này chỉ là lý thuyết và hiện chỉ nằm ở các trang tài liệu, chứ chưa có hành động cụ thể nào có thể tin cậy được, nhằm giúp ngăn bớt hạn hán, chống bớt lụt lội khả dĩ bảo vệ được môi trường, kế sinh nhai, an toàn nguồn nước và thực phẩm của dân cư lưu vực.
Các tổ chức NGO quốc tế cũng như các chuyên gia khoa học đã cảnh báo về các tác động thiên tai lẫn nhân tai qua nhiều thập niên, nhưng chính quyền các nước hạ lưu sông Mekong đã không hành động, không nâng việc bảo vệ nguồn sống cho dân cư Mekong thành quốc sách với ưu tiên và hậu thuẫn chính trị tương xứng. Không những thế, tất cả các nước trong lưu vực đã và đang có hàng loạt dự án thủy điện và chuyển nước quy mô, điều này sẽ gây thêm nguy khốn cho dân cư lưu vực.

Sáng kiến Langcang – Mekong

Ngọc Trân: Trước tình hình đó, chính phủ các nước hạ nguồn sông Mekong hiện cần phải làm gì để cứu vãn môi sinh và sinh kế cho toàn bộ dân cư trong khu vực hạ lưu?
Ông Phạm Phan Long: Chính quyền bốn nước và Ủy hội sông Mekong cần chấp thuận khuyến cáo đánh giá tác động môi trường của Ủy hội sông Mekong, quyết định ngưng xây đập Xayaburi ở Lào và 10 con đập còn lại trên sông Mekong.
Ngoài ra, những biện pháp khác mà các nước hạ lưu có thể làm, bao gồm: lập quỹ bảo vệ môi trường và cứu trợ hạn hán, lũ lụt (Mekong Fund); phục hồi rừng và thảm thực vật; phát triển nông ngư nghiệp, sống với hạn hán và sống với mặn như đã sống với phèn và sống với lũ; phát triển hoạt động kinh tế huấn nghệ bớt dựa vào thiên nhiên sông hồ; trong 10 năm tới nghiên cứu thủy điện theo tiêu chuẩn quốc tế và cần có dung tích hồ chứa dành riêng cho ưu tiên chống lụt và giảm hạn.
Nguồn nước là tài nguyên thiên nhiên quý báu nhất mà các dân tộc chung một dòng sông đời đời cùng chia sẻ. Các dòng sông quốc tế chảy qua nhiều biên giới quốc gia thường trở thành nguồn gốc tranh chấp quyền lợi nước giữa các dân tộc. Trên thế giới có trên 300 dòng sông quốc tế và đã có trên 400 thỏa hiệp sông ngòi quốc tế.
Âu châu đã có các thỏa hiệp quốc tế từ năm 1815, nhờ họ sớm nhận thức, tranh chấp không giải quyết sẽ là bức tường ngăn cản tất cả mọi cơ hội hợp tác kinh tế và chính trị khác, mà hậu quả là thiệt thòi nặng nề chung cho toàn lưu vực.
Trước sự suy thoái trên lưu vực Lancang – Mekong, sự vô hiệu của Ủy hội sông Mekong, sự vô cảm của Trung Quốc, cùng với sự bất lực của các nước hạ lưu và mối nghi ngờ Trung Quốc ở thượng lưu ngày càng sâu đậm, đã đến lúc phải tìm giải pháp toàn bộ cho lưu vực Lancang – Mekong.
Hội Sinh thái Việt trân trọng đề nghị lãnh đạo sáu nước Lancang – Mekong họp lại, cùng nhau tìm một đáp án quốc tế cho toàn khu vực bằng Sáng kiến Lancang – Mekong (Lancang Mekong Initiative – LMI). Chỉ khi nào cả 6 nước cùng nhau thương lượng ký kết một hiệp ước quốc tế Lancang – Mekong Treaty thì mới có thể mong cứu được Mekong.

Mời các bạn tìm hiểu cội nguồn sông Mekong qua video “Nhật ký sông MêKông (phần 1): Cội Nguồn”, do RFA thực hiện

 

Bức thư chung kêu gọi đưa VN vào danh sách CPC

Quỳnh Chi, phóng viên RFA
2011-02-09

RFA
Một số tổ chức đấu tranh cho dân chủ vừa đồng viết một lá thư gởi cho Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary với mục đích kêu gọi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mang Việt Nam trở lại danh sách CPC.
Việc mang Việt Nam trở lại danh sách này đã được nhiều người nói đến nhưng chưa có kết quả đáng kể. Vậy tác dụng của lá thư này ra sao, Quỳnh Chi hỏi chuyện ông Đoàn Viết Hoạt, phát ngôn nhân của 10 tổ chức đồng ký tên vào lá thư.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton tại Bộ Ngoại Giao
Hoa Kỳ hôm 14/1/2011.AFP photo

Quỳnh Chi: Thưa ông, chúng tôi được biết rằng 10 tổ chức đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền vừa viết một lá thư cho bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ, nhằm kêu gọi đưa Việt Nam trở lại sanh sách các nước cần được quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Ông có thể cho biết sơ qua lá thư không ạ?
Ông Đoàn Viết Hoạt: Chúng tôi khoảng 10 tổ chức những người đấu tranh cho dân chủ nhân quyền ký tên một bức thư chung nhân dịp Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chuẩn bị xét duyệt danh sách CPC. Đồng thời, chúng tôi cũng biết là Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua một nghị quyết gởi Bộ Ngoại giao để yêu cầu đưa Việt Nam trở lại danh sách này. Cho nên chúng tôi đã bàn thảo và quyết định viết lá thư này.
Quỳnh Chi: Vậy ngoài gởi cho bà Hillary thì quý vị còn gởi cho cơ quan nào nữa không?
Ông Đoàn Viết Hoạt: Chúng tôi gởi đến các vị dân biểu quốc hội, các cơ quan báo chí quốc tế và Hoa Kỳ, các tổ chức NGO (các tổ chức phi chính phủ) và các cơ quan truyền thông của người Việt hải ngoại.
Quỳnh Chi: Trong lá thư, quý vị có đề cập rằng Hoa Kỳ đã ứng xử mềm dẻo với Việt Nam, vậy ông có thể nói cụ thể là chính sách mềm dẻo ấy thể hiện qua điểm nào không ạ?
Ông Đoàn Viết Hoạt: Đó là việc Hoa Kỳ đưa Việt Nam ra khỏi danh sách CPC. Lúc đó thì Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng làm như vậy thì Việt Nam sẽ tôn trọng tự do tôn giáo và hòa nhập vào quốc tế. Chúng tôi cho đây là một chính sách mềm dẻo và khôn ngoan. Tuy nhiên, từ đó đến nay, tất cả các tổ chức NGO và những người Việt tại hải ngoại cũng đều đồng ý rằng từ khi Việt Nam được lấy tên ra khỏi danh sách này thì chính quyền gây khó khăn và đàn áp các giáo hội.
Quỳnh Chi: Thưa ông, lá thư cũng cho rằng việc không đưa Việt Nam vào danh sách CPC đã cho thấy sự bất nhất trong chính sách của Hoa Kỳ. Để rộng đường dư luận thì ông vui lòng nói cụ thể hơn?
Ông Đoàn Viết Hoạt: Bất nhất đầu tiên là về lý tưởng, tức là những giá trị truyền thống của Hoa Kỳ. Đây là một nước được thế giới cho rằng luôn tôn trọng những quyền cơ bản của con người nói chung và quyền tự do tôn giáo nói riêng. Bất nhất thứ hai, chính các báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng cho rằng quyền tự do tôn giáo cũng vẫn còn chưa được tôn trọng một cách triệt để và thật sự. Thứ ba, hiện nay chỉ có Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ vẫn chưa muốn đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC. Còn tất cả các NGO của Mỹ cũng như thế giới, đặc biệt là Quốc hội Hoa Kỳ vừa rồi đã thông qua nghị quyết để gởi cho Hành pháp, yêu cầu đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC.
Quỳnh Chi: Thưa ông, một câu hỏi mà tôi nghĩ nhiều người cũng đang thắc mắc, là đã có nhiều người nói đến việc đưa VN trở lại danh sách CPC nhưng vẫn chưa có kết quả. Ông nghĩ tác dụng của lá thư này như thế  nào? Và dựa vào đâu ạ?
Ông Đoàn Viết Hoạt: Thứ nhất, ít nhất chúng ta cũng phải lên tiếng để Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đặc biệt là bà Ngoại trưởng biết tiếng nói của những người Mỹ gốc Việt. Thứ hai, chúng ta cũng đồng phải lên tiếng để đồng hòa nhịp với các vị dân biểu quốc hội. Họ đã vì tình hình chung của nước Mỹ và tình hình Việt Nam mà đã ra một nghị quyết như vậy thì chúng ta không thể nào không lên tiếng để ủng hộ và hỗ trợ cho nghị quyết đó. Thứ ba, chúng ta muốn lên tiếng để các vị đấu tranh cho nhân quyền, tự do tôn giáo trong nước biết rằng, người Việt ở hải ngoại luôn hướng về quê hương và ủng hộ những cuộc đấu tranh của họ.
Quỳnh Chi: Vâng, cám ơn ông Đoàn Viết Hoạt rất nhiều.
Ông Hoạt cũng cho rằng, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sẽ xét duyệt lại danh sách CPC trong tháng này. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và cập nhật những thông tin về vấn đề này.

Theo dòng thời sự:

Ai Cập: Nghịch Lý của Cải Cách

Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2011-02-09
RFA
Vụ khủng hoảng Ai Cập có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân sâu xa về kinh tế.
Nhưng chính là nỗ lực cải cách nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế có khi lại dẫn tới biến động và khủng hoảng chính trị càng gây khó khăn kinh tế cho quốc gia này. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về nghịch lý đó qua phần trao đổi sau đây của Việt Long với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa.

Người dân Ai Cập biểu tình chống chính phủ trước cửa
Quốc hội hôm 09/2/2011. AFP photo

Khủng hoảng do cải cách

Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Ăn Tết xong, chúng ta trở lại nhũng trang u ám về kinh tế và đề mục nóng bỏng của thời sự tất nhiên là vụ khủng hoảng tại Ai Cập. Kỳ này, chúng tôi xin đề nghị ông trình bày cho thính giả của đài Á châu Tự do những yếu tố kinh tế trong vụ khủng hoảng. Ông nghĩ sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi đề nghị là ta sẽ cùng phân tích cả nguyên nhân lẫn hậu quả kinh tế của vụ khủng hoảng đang xảy ra nhưng xin trước tiên nói đến “nghịch lý của cải cách”. Chính là nỗ lực cải cách của Cộng hoà Á Rập Ai Cập, hay Egypt, lại tạo đà gia tốc khiến khủng hoảng bùng nổ. Sở dĩ mình phải nói đến chuyện đó để ta có thể nhìn vào hồ sơ trên toàn cảnh và may ra sẽ tránh được những thảm họa đang nhìn thấy tại Ai Cập.
Việt Long: Ông nêu ra một ý kiến hơi lạ. Chính là việc cải cách mới lại thúc đẩy khủng hoảng. Nói như vậy thì còn xứ nào dám tiến hành cải cách nữa?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu chuyện đó để thấy rằng việc lãnh đạo quốc gia thật không đơn giản và khi cải cách kinh tế thì cũng như đưa cỗ xe vào khúc quanh nên cỗ xe càng dễ bị lật nếu xã hội thiếu tự do và hệ thống chính trị không có khả năng ứng phó linh động! Nhưng trước hết, ta cần nhìn vào toàn cảnh đã.
Ai Cập có nền văn minh lâu đời, nay là quốc gia đông dân nhất trong khối Á Rập Hồi giáo tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi. Xứ này có hơn 80 triệu dân trên diện tích bằng ba Việt Nam mà thật ra it đất canh tác ngoài thung lũng và châu thổ sông Nile, hai phần ba lãnh thổ chỉ là sa mạc. Dầu vậy, xứ này vẫn giầu hơn gấp đôi Việt Nam nếu tính theo lối thực tiễn là tỷ giá mãi lực của đồng bạc. Sau khi lật đổ chế độ quân chủ cách nay gần sáu chục năm, Ai Cập có lúc ngả theo xu hướng Xô viết về cả ngoại giao lẫn kinh tế và chỉ bắt đầu chuyển sang chế độ kinh tế thị trường kể từ 1991. Nhìn như vậy, Ai Cập cũng không mấy khác Việt Nam.
Nhưng Ai Cập còn có nỗ lực cải cách vượt bực kể từ năm 2004 với Thủ tướng Ahmed Nazif và một nội các gồm nhiều chuyên gia. Việc cải cách được thế giới ngợi ca vì thành tích xoá đói giảm nghèo và phát triển sản xuất với tốc độ bình quân là 7%, khiến Ai Cập bước vào hàng ngũ có lợi tức trung bình cao mà Việt Nam chưa vuơn tới. Thực tế thì Ai Cập là nước tiên tiến tại khu vực Bắc Phi Trung Đông, gọi là MENA. Bây giờ trong cuộc khủng hoảng, người ta quên mất thành tích đó và những phúc trình ca tụng của Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF. Nôm na là Ai Cập tiến xa hơn Việt Nam về kinh tế mà sau cùng cũng vấp ngã vì chính trị.

“Nghịch lý của độc tài”

Hàng chục ngàn người Ai Cập biểu tình ở Công trường Tahrir, Cairo hôm 30.01.2011. AFP photo

Việt Long: Chúng ta bắt đầu đi vào phần hấp dẫn của vấn đề! Thưa ông, thế thì vì sao Ai Cập lại vấp ngã sau khi đã đạt những thành quả kinh tế ông đánh giá là còn cao hơn Việt Nam?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Nói văn hoa thì Ai Cập bị rơi vào quy luật gọi là “nghịch lý của độc tài”, khi chế độ độc tài cần hiện đại hóa xứ sở và nâng cao trình độ hiểu biết của lực lượng lao động. Trình độ dân trí gia tăng khiến họ không chấp nhận ách độc tài nữa. Đấy là một cách giải thích từ xã hội học. Một cách giải thích khác là Ai Cập trả giá cho sự thành công về kinh tế khi nâng cao mức sống chung của xã hội, rồi sự xuất hiện của một tầng lớp trung lưu khá giả đòi hỏi những thay đổi chính trị trên thượng tầng mà lãnh đạo không theo kịp. Đó là cái nhân, là những nguyên nhân sâu xa của tình trạng ngày nay.
Việt Long: Chúng tôi hiểu là khi ông nói đến cái “nhân”, tức là những nguyên nhân khiến một sự việc nào đó sẽ xảy ra. Như vậy, chúng ta còn cái “duyên”, là vì sao bây giờ sự việc ấy lại xảy ra?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Người ta nói đến một trào lưu chung trên thế giới – tức là ở nhiều quốc gia chứ không riêng gì Ai Cập – là xã hội tiến hóa nhanh, đào tạo ra một tầng lớp trẻ từ 15 đến 29 tuổi, kể cả phái nữ, có kiến thức cơ bản hay trình độ cao đẳng sau tú tài mà nhất thời lại không kiếm ra việc. Nạn tổng suy trầm kinh tế năm 2008-2009 làm vấn đề này trêm trầm trọng.
Cho nên, các thanh niên có hiểu biết hiện đại hơn phụ huynh ngày xưa càng khó chấp nhận được tương lai bấp bênh của mình. Trong năm qua, thế giới có nhiều vụ thanh niên biểu tình như vậy vì thanh nhiên không có việc làm và thấy tương lai mờ mịt. Ai Cập bị hiệu ứng suy trầm nên bị thất nghiệp mấp mé 10%, nguy kịch nhất là mức thất nghiệp của giới trẻ lại ở khoảng 24%, tức là một phần tư thanh niên có thể thấy mình vô dụng, không có tương lai. Sau nạn suy trầm, Ai Cập ứng phó khá thành công, nhưng thành quả đó lại trước tiên rơi vào tay tư doanh, là người có tiền đầu tư, nên càng gây khó chịu cho người khác.
Chính quyền đối phó bằng cách chạy ra đằng trước, kéo dài chương trình đào tạo đại học, để trên giấy tờ vẫn ít người tốt nghiệp đại học mà thất nghiệp. Thực tế, thanh nên có tri mà không có cơ hội hành thì họ hành động để tạo ra thay đổi. Trong một xứ dân chủ, hành động của họ có thể là đi vận động cho các ứng cử viên quan tâm đến số phận của họ. Trong một xứ độc tài không có lá phiếu thì người ta ném đá vào chế độ và đòi lập ra chế độ khác.
Thế rồi, khi một thanh niên Tunisie bị đẩy vào hoàn cảnh cùng quẫn đến nỗi phải tự thiêu thì ngòi lửa căm phẫn lan rất nhanh trong tuổi trẻ ở đây và ở các xứ khác. Tại Ai Cập, Tổng thống Hosni Mubarak đã quá tám chục, lại lâm trọng bệnh mà không chuẩn bị chuyển giao quyền lực, có khi còn muốn dành ghế cho con trai. Đảng cầm quyền là
Dân chủ Quốc gia lại không đáp ứng nguyện vọng của giới trẻ đầy ưu lo và bất mãn thì một tia lửa nhỏ cũng bất thành đám cháy. Cũng cần phải nói cho khách quan là hệ thống chính trị Ai Cập dù sao thông thoáng hơn Việt Nam rất nhiều với Quốc hội vẫn có đối lập thật và có quyền đàn hặc hay phê phán chính phủ và nhất là kinh tế vĩ mô xứ này quân bình hơn Việt Nam.

Hậu quả kinh tế sau khủng hoảng

Việt Long: Chúng ta bước qua phần hai là về hậu quả. Sau vụ khủng hoảng này, hậu quả kinh tế sẽ như thế nào cho Ai Cập và các nước khác.

Người dân Ai Cập đốt xe cảnh sát chống bạo động trong một cuộc biểu tình ở phía bắc thành phố Suez hôm 28/1/2011. AFP photo

Nguyễn Xuân Nghĩa: Chúng ta thật khó biết vì cuộc khủng hoảng mới bắt đầu và chưa dứt!
Nói chung, ta có thể vượt qua khủng hoảng kinh tế sau năm năm áp dụng chính sách đúng đắn. Khủng hoảng chính trị thì phải mất 10 năm nếu không tụt lùi vào đàn áp và hỗn loạn. Còn khủng hoảng về văn hóa thì phải mất nhiều thế hệ, là trường hợp bản thân tôi e ngại cho Việt Nam.
Tại Ai Cập, hậu quả đầu tiên là hỗn loạn chính trị gây tổn thất kinh tế, ít ra cứ ba ngày thì mất một tỷ đô la và tuần này trái phiếu Ai Cập đã mất giá vì phân lời tăng, dù không hẳn là nhiều vì thị trường trái phiếu cho rằng khủng hoảng có thể sẽ giảm dần khi Tổng thống Mubarak sẽ lưu vong với lý do chữa bệnh. Nhưng một hậu quả kinh tế có thể dội ngược vào chính trị là nguy cơ bị trận đói.
Việt Long: Vì sao ông nói đến nạn đói tại Ai Cập?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Ai Cập phải nhập khẩu lương thực mà cửa khẩu chính là hải cảng Alexandria, nơi bốc rỡ 80% hàng hóa ra vào xứ này. Theo các thống kê lạc quan nhất của chính quyền thì dự trữ lương thực có đủ cho sáu tuần tiêu thụ, như vậy nay chỉ còn bốn mà thôi!
Nếu chính quyền lâm thời trong tay Phó Tổng thống Omar Suleiman và các lực lượng đối lập không dàn xếp được sự ổn định tối thiểu cho việc dân sinh, hay nếu các nhóm quá khích lợi dụng cơ hội mà khóa hải cảng, phá đường chuyển vận hoặc đốt kho gạo thì tình hình sẽ nguy ngập. Trong mọi cuộc cách mạng, chữa cháy và cứu đói là hai việc quan trọng nhất mà cứ hay bị quên! Khi dân đói thì nói gì cũng khó và cách mạng có khi là thổ phỉ và tàn sát. Chúng ta có thể theo dõi chuyện này để biết được bản lãnh của những người trong cuộc là có thể xây dựng lại một chế độ chính trị mà không làm tan hoang tất cả hay không.
Nói tiếp về hậu quả kinh tế, tại Ai Cập, năng lượng chiếm vai trò quan trọng vì xứ này xuất khẩu khí đốt từ hai trung tâm Idku và Damietta bên Địa trung hải. Lãnh thổ Ai Cập còn có các hệ thống dẫn dầu thô từ Vịnh Ba Tư qua Alexandria vào biển Địa trung hải, dẫn khí đốt từ hải cảng Port Said qua bán đảo Sinai đến vịnh Aqaba để cung cấp cho hai xứ láng giềng là Israel và Jordan. Nếu hạ tầng năng lượng này bị phá hoại – là điều tới nay có xác suất thấp – thì kinh tế Ai Cập sẽ khốn đốn và hậu quả có thể gây một biến động nhỏ cho thị trường năng lượng toàn cầu.
Việt Long: Nhưng Ai Cập cũng kiểm soát kênh đào Suez nối liền Hồng hải với Địa trung hải. Nếu xứ này có loạn thì việc vận chuyển trên con đường huyết mạch này tất nhiên bị cản trở, làm kinh tế Ai Cập và cả thế giới đều bị ảnh hưởng chứ?

Các thành viên của Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak bảo vệ tổng thống bên ngoài đài truyền hình quốc gia tại Cairo ngày 28 tháng một năm 2011. AFP PHOTO

Nguyễn Xuân Nghĩa: Kênh đào Suez có thể đem lại cho Ai Cập chừng hai tỷ đô la tiền lệ phí, tức là bằng với số viện trợ của Hoa Kỳ nhưng chỉ bằng một phần tư số tiền dân Ai Cập hải ngoại gửi về nhà, là khoảng tám tỷ đô la, cũng y như Việt Nam! Việc phong tỏa con kênh thật ra không dễ vì quân đội Ai Cập vẫn làm chủ được tình hình và khó để việc đó cảy ra.
Cho kinh tế toàn cầu thì kênh đào Suez là nơi vận chuyển 8% hàng hóa và 2% năng lượng giao dịch thế giới giữa Đông và Tây, Âu và Á. Trong quá khứ, những trở ngại trên kênh đào khiến người ta phải  vòng qua Mũi Hảo Vọng tại Nam Phi, là dài hơn chừng 3.500 hải lý hay gần 7.000 cây số. Cũng vì vậy mà thế giới đã đóng những tầu chở dầu cực lớn để giảm phí tổn chuyên chở khi đi đường vòng. Nếu khủng hoảng Ai Cập khiến kênh đào bị khóa – là chuyện khó xảy ra trong lúc này – thì việc chuyển vận năng lượng và hàng hóa có thể tốn kém hơn cho các xứ khác, và đó là hậu quả kinh tế của khủng hoảng Ai Cập đối với toàn cầu.
Dù sao, trong hoàn cảnh dầu thô, thương phẩm và lương thực đang lên giá và lạm phát đe dọa nhiều nền kinh tế thì dù không nhiều, khủng hoảng Ai Cập có gây bất lợi cho kinh tế toàn cầu. Nhưng hậu quả chính trị cón đáng chú ý hơn hậu quả kinh tế.
Việt Long: Câu hỏi cuối thưa ông, chính là hậu quả chính trị đó.
Ông có trình bày cho thính giả thấy rằng Ai Cập quản lý kinh tế tương đối khả quan và chính là cải cách kinh tế đã đưa xã hội tới chỗ không chấp nhận được ách độc tài chính trị và đó là nghịch lý của độc tài. Hiển nhiên là các xứ độc tài cũng theo dõi chuyện này rất sát chứ?
Nguyễn Xuân Nghĩa: Khi nói đến nghịch lý của cải cách, tất nhiên tôi không hàm ý là đừng nên cải cách kinh tế vì sẽ dẫn đến động loạn! Con người ta có hai chân mà chỉ xoải một chân thì tất nhiên là té.
Nếu Ai Cập chủ động cải cách chính trị cho dân chủ như trường hợp Nam Hàn hay Đài Loan hoặc Indonesia thì dù kinh tế khủng hoảng cũng không làm chính trị sụp đổ và cả nước tan tành. Một thí dụ khác là Ấn Độ, đang gặp hai nguy cơ song hành là thất nghiệp và lạm phát cao, chưa kể đến nạn khủng bố, nên xã hội thường bị biến động. Nhưng thể chế chính trị của họ vẫn vững chính là nhờ nguyên tắc dân chủ.
Những gì xảy ra tại khu vực Bắc Phi và Trung Đông cho thấy là Hồi giáo hoặc bất cứ nền văn hóa nào đi nữa cũng không thể coi thường ý dân và duy trì ách độc tài. Cải cách kinh tế vì vậy phải đi cùng cải cách chính trị như hai chân phải cùng đều bước thì mới tiến mà không té.
Nếu không, chỉ còn một cách tạm bợ là ru ngủ thanh niên bằng thể thao, nghệ thuật và giải trí vô ý thức thì lại đụng vào nghịch lý của nạn ngu dân. Thế hệ tương lai mà sa đà trong đó hoặc chỉ muốn qua xứ khác sinh sống thì làm sao mà nâng cao kiến thức và năng suất để làm chủ cuộc sống và đứng ngang tầm thế giới? Chính sách ngu dân đó dẫn tới khủng hoảng về giáo dục và đào tạo, là cái giá phải trả cho một chế độ chính trị hôn ám.
Trung Quốc không đến nỗi ngu dân như vậy mà còn sợ “hiệu ứng Ai Cập” đến nổi kiểm soát cả thông tin và xoá hết mọi tin có tên Ai Cập. Việt Nam nên học bài học mà nhấc chân kia lên, kẻo có ngày cũng sẽ ngã khiến xứ sở mất thêm một thập niên hỗn loạn.
Việt Long: Xin cám ơn ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Theo dòng thời sự:

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: