Sự bí ẩn của tư bản

Sự bí ẩn của tư bản (Phần I) – TCPT số 40
Vì sao Chủ nghĩa Tư bản huy hoàng tại phương Tây nhưng không thành công tại những nơi khác? Vì sao một phần nhỏ của xã hội tích lũy được tài sản và trở nên giàu có, biệt lập với phần còn lại, như thể họ được một chiếc chuông pha lê che chở?
Bí ẩn của Tư bản nằm trong việc xây dựng một thể chế sở hữu chính danh và duy nhất. Những người nghèo thật ra không nghèo như ta thường nghĩ. Có trong tay một khối lượng tài sản khổng lồ, nhưng không có được quyền sở hữu chính danh, họ khô ng thể biến chúng thành công cụ sản xuất: chúng là Tư bản chết. Tác giả Hernando de Soto là nhà kinh tế học người Pêru nhiều năm làm việc cho GATT và cho các chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc tại các quốc gia thuộc thế giới thứ ba. Ngoài chủ tịch Học Viện tự do và Dân chủ Lima, ông đã nhận vô số giải thưởng thế giới cho công trình nghiên cứu kinh tế của mình. Bản tóm tắt này do tạp chí Finances & Development đăng tải tháng 3 năm 2001.
PHÍA TRƯỚC giới thiệu đến bạn đọc Phần I trong bài Sự Bí Ẩn Của Tư Bản, giải thích về chủ nghĩa tư bản và tiềm năng của các tài sản. Phần II sẽ giới thiệu đến quý bạn đọc vào số sau, liên quan đến thể chế luật pháp của phương Tây và sự ảnh hưởng cho phép các công dân của mình biến tài sản thành Tư bản.
****
Những con đường tại Trung Đông, Liên Xô cũ hay tại châu Mỹ La-tinh cho du khách nhìn thấy vô số cảnh quan: những khu dân cư, những thửa đất trồng trọt, được gieo hạt và được gặt hái, những hàng hóa được mua, được bán. Tài sản chung tại các nước đang phát triển và những nước Xã hội Chủ nghĩa (XHCN) cũ chủ yếu phục vụ các hoạt động sống như vậy. Cùng lúc đó tại phương Tây, các tài sản này còn có một cuộc sống khác song hành: chúng là Tư bản, tồn tại và hoạt động song song với thế giới tài sản vật chất. Chúng đóng vai trò phát triển sản xuất, bằng cách đảm bảo lợi ích cho các bên, ví như cho phép thế chấp vay tiền, đảm bảo các khoản tín dụng, hay đảm bảo dịch vụ công cộng.
Tại sao các tòa nhà, hay các tài sản đất đai, nằm trên phần còn lại của thế giới, lại không thể mang một sự sống song hành trên? Tại sao những nguồn tài nguyên khổng lồ của các quốc gia đang phát triển và các nước XHCN cũ, mà Học viện Tự do và Dân chủ Lima chúng tôi ước tính vào khoảng 9,3 tỷ USD Tư bản chết, lại không thể tạo ra được những giá trị khác, ngoài hình thái vật chất tự nhiên của chúng? Câu trả lời của chúng tôi: Tư bản chết là vì chúng ta quên mất (hay bởi chúng ta không hề biết) rằng việc biến một tài sản vật chất thành Tư bản – ví dụ như một ngôi nhà có thể được thế chấp để vay tiền tạo vốn cho một doanh nghiệp – là một quá trình hết sức phức tạp. Ta có thể so sánh điều này với lý thuyết của Albert Einstein, trong đó ông lấy ví dụ một viên gạch có thể giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ như một vụ nổ hạt nhân. Một cách tương tự, Tư bản trước khi được chúng ta biết đến, có khả năng chất chứa và giải phóng ra một nguồn năng lượng khổng lồ, nhờ vào hàng tỷ viên gạch mà những người nghèo khổ đã chất vào các công trình xây dựng của họ.
Những chỉ dấu của quá khứ
Để có thể giải thích sự bí ẩn của Tư bản, chúng ta cần phải tìm lại nghĩa bản thủy của khái niệm này. Trong tiếng La-tinh thời Trung cổ, từ CapitalTư bản – vốn được dùng để chỉ đầu các gia súc, những con vật mà tự xa xưa đã là một nguồn tạo của cải nhờ vào việc cung cấp thịt, sữa, da, lông thú hay cả phân để làm chất đốt. Các đàn gia súc ngoài ra còn có khả năng sinh sản. Vậy là ngay vào khởi điểm, Tư bản đã có một chức năng kép. Trước hết, chúng bảo đảm một khối lượng vật chất (đàn gia súc). Sau đó, chúng nói lên khả năng sinh sản tạo ra thặng dư trong tương lai. Từ các chuồng gia súc, Tư bản chỉ bước một bước vào các trang sách giáo khoa, và trở thành thuật ngữ được các nhà kinh tế học sử dụng để khái quát toàn bộ những nguồn tài sản quốc gia có khả năng tham gia vào sản xuất tạo thặng dư và tăng năng suất lao động.
Các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith, và sau đó là Marx, đã nhìn thấy Tư bản chính là động cơ mà nhờ đó nền kinh tế thị trường vận hành. Trong tác phẩm Sự thịnh vượng của các quốc gia, Smith nhấn mạnh trước hết một nhận định mà theo chúng tôi chính là nền tảng cất giấu sự bí ẩn chúng ta đang đi tìm câu trả lời. Để các tài sản có thể được tích tụ và biến thành Tư bản sống có khả năng tham gia vào sản xuất tạo giá trị thặng dư, “chúng phải có một độ ổn định nhất định, và phải được cụ thể hóa dưới một dạng cố định, tiếp tục tồn tại ngay cả sau khi quá trình sản xuất đã kết thúc. Về mặt hình thức, chúng là lao động được tích tụ và bảo quản, với mục đích có thể được tái sử dụng khi chúng ta có nhu cầu hay vào một mục đích nào khác sau này”. Điều mà chúng tôi rút ra từ nhận định của Smith là Tư bản không phải là một kho chất chứa tài sản, mà là tiềm năng – cái tiềm năng cho phép tạo ra một hoạt động sản xuất mới. Nhưng tiềm năng lại là một khái niệm trìu tượng. Chúng ta cần phải biến đổi nó, đưa cho nó một dạng hình thái vật chất cố định nắm bắt được, trước khi buộc nó giải phóng ra năng lượng, như năng lượng nguyên tử được giải phóng từ viên gạch của Einstein.
Khái niệm sống còn này của Tư bản đã bị quên lãng trong đêm tối của thời gian. Ngày hôm nay, người ta nhầm lẫn giữa Tư bản và Tiền. Tiền chỉ là một hình thái của Tư bản giúp cho nó vận động. Đương nhiên, dùng một hình thái cụ thể để ghi nhớ một khái niệm phức tạp bao giờ cũng dễ hơn phải ghi nhớ bản chất trìu tượng của khái niệm đó. Tư duy chúng ta định dạng “Tiền” dễ hơn định dạng “Tư bản” rất nhiều. Tuy nhiên sẽ là sai lầm nếu cho rằng Tiền có thể quyết định số phận của Tư bản. Tiền cho phép tiến hành giao dịch, mua bán các tài sản, nhưng bản thân tiền không thể tự nó tạo ra giá trị thặng dư.
Năng lượng tiềm năng của các tài sản
Vậy điều gì cho phép xác định tiềm năng một tài sản có thể sinh ra một hoạt động sản xuất mới? Làm thế nào để có thể phân định được giá trị một căn nhà với tư cách là một hình thái của Tư bản khỏi hình thái vật chất là nơi ở?
Để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta hãy so sánh khái niệm Tư bản với năng lượng. Hãy thử lấy ví dụ một hồ nước nằm trên đỉnh một ngọn núi. Chúng ta có thể mường tượng ra hình dạng vật chất của nó, tưởng tượng ra những ích dụng mà nó mang lại, ví dụ như dùng để bơi thuyền hay câu cá tại đó. Nhưng nếu chúng ta nhìn hồ nước đó với con mắt của một kỹ sư đang muốn biến nó thành một nguồn năng lượng bằng cách xây đập thủy điện, và ước tính những giá trị khác mà hình thái vật chất tự nhiên của hồ nước không thể tự mình sinh ra, chúng ta sẽ nhận thấy rằng cái tiềm năng năng lượng này gắn với độ cao của hồ nước. Thách thức đối với người kỹ sư là làm sao có thể tạo ra một dòng chảy cho phép biến nước hồ thành một công cụ làm việc mới.
Tư bản, cũng như năng lượng, là một giá trị ngủ quên. Để đánh thức nó, làm cho hình thái vật chất của nó trở thành tuyệt hảo không đủ, chúng ta cần phải biết suy nghĩ cách biến đổi để xem nó có thể làm được điều gì khác? Điều này có nghĩa là chúng ta cần phải tìm thấy một chu trình cho phép nó chuyển hóa, cho phép nó được tồn tại dưới một dạng hoạt động sản xuất mới.
Nếu như con người đã biết rõ chu trình biến nước thành điện từ lâu, chu trình cho phép biến tài sản thành một Tư bản sản xuất vẫn còn là bí ẩn. Lý do là vì cái chu trình, vốn đã được tạo ra và vận hành từ lâu nay, không nhằm mục đích chính là tích tụ Tư bản. Mà ở khắp nơi trên trái đất này, nó được tạo ra để bảo vệ quyền sở hữu tài sản. Cùng với việc các hệ thống sở hữu các quốc gia phương Tây được phát triển, vô hình chung, chúng đã cho phép sản sinh một loạt các cơ chế biến đổi, mà kết quả hướng về phía tích tụ và sản sinh Tư bản nhiều hơn bất kỳ một thể chế nào được nhân loại biết đến trong quá khứ.
Chu trình biến đổi giấu mặt của phương Tây
Theo Hệ thống quyền sở hữu của các quốc gia phương Tây, sự biến đổi một tài sản thành Tư bản bắt đầu bằng việc mô tả và cấu trúc các đặc điểm kinh tế và xã hội có ích nhất của tài sản, ghi nhận các thông tin đó – dưới dạng những bản ghi tài khoản trên giấy, hay các định dạng số như file máy tính – sau đó tập hợp chúng vào trong một chứng từ ghi danh. Một tập hợp các quy tắc cực kỳ chi tiết và tỉ mỉ sẽ quy định quá trình này phải được tiến hành thế nào. Các sổ sách và tài khoản ghi nhận tài sản, và các chứng từ sở hữu, biểu hiện nhận thức của chúng ta về những gì có ích nhất của tài sản từ góc độ kinh tế. Chúng cho phép nắm bắt và cấu trúc các thông tin quan trọng nhất, cần thiết để có thể mường tượng ra tiềm năng của một tài sản, cũng như cho phép chúng ta kiểm soát tài sản.
Tất cả những tài sản thuộc tính kinh tế và xã hội không được cố định trong một hệ thống sở hữu chính danh sẽ rất khó có khả năng được đem ra mặc cả mua bán trên thị trường. Làm thế nào nhân loại có thể kiểm soát được một khối lượng khổng lồ các tài sản được chuyển từ tay người này qua tay người khác trong một nền kinh tế thị trường hiện đại, nếu không tồn tại một hệ thống ghi nhận sở hữu chính danh? Thiếu vắng một hệ thống như thế, tất cả những trao đổi tài sản, ví dụ như mua bán nhà cửa, sẽ buộc chúng ta phải bỏ ra vô số công sức để xác định đôi khi chỉ là những thông tin đơn giản nhất của giao dịch: người bán có phải là chủ sở hữu thật hay không? Ông ta có quyền bán hay không? Liệu ông ta có đang bán một căn nhà đã bị thế chấp hay không? Người sở hữu mới của căn nhà liệu sẽ được những nhà chức trách công nhận quyền sở hữu của mình hay không? Làm thế nào để có thể chứng minh một cách hợp pháp rằng mình chính là chủ sở hữu? Và tránh việc một số người khác rất có thể cũng sẽ đến để đòi quyền này? Điều này giải thích vì sao ngoài phương Tây, phần lớn các tài sản chỉ được trao đổi trong những không gian địa lý hẹp, và không cho phép phát triển thương mại.
Bằng chứng là vấn đề chính của các quốc gia đang phát triển và XHCN cũ không phải là thiếu tư duy kinh doanh: những người nghèo thực ra đang cùng nhau giữ thêm hàng tỷ đô-la tài sản đất đai trong vòng 40 năm qua. Cái mà họ thiếu là có quyền sở hữu chính danh, cái mà nhờ vào nền tảng pháp luật sẽ làm hiển lộ tiềm năng kinh tế cho các tài sản của họ – tiềm năng mà họ có thể sử dụng để sản xuất, thế chấp hay đảm bảo giá trị tài sản của mình trên một thị trường mới rộng gấp nhiều lần.
Tại sao việc sản sinh Tư bản lại trở thành một điều bí ẩn? Tại sao các quốc gia giàu có và đầy rẫy những chuyên gia kinh tế lại không giải thích rằng một chế độ sở hữu chính danh là điều sống còn để tạo ra Tư bản? Câu trả lời là vì ngay cả trong một thể chế sở hữu chính danh, cũng rất khó để có thể quan sát được kỹ lưỡng chu trình biến tài sản thành Tư bản. Nó nằm lẫn lộn giữa vô số các điều luật, các nghị định, quy tắc và định chế cấu thành hệ thống sở hữu. Trong cái mê cung luật pháp này, khó lòng để có thể hiểu hết hệ thống sở hữu chính danh thật sự hoạt động sự như thế nào. Cách duy nhất để quan sát, là tìm thấy một điểm lùi cho phép nhìn nhận hệ thống từ một góc nhìn không phụ thuộc vào luật pháp – hướng nghiên cứu mà chúng tôi đã thực hiện với phần lớn các công trình của mình.
Hernando de Soto.
Đông A chuyển ngữ THTNDC 01/11/2010
Mời quý độc giả đón đọc Phần II trong số 41, phân tích về thể chế luật pháp của phương Tây và sự ảnh hưởng cho phép các công dân của mình biến tài sản thành Tư bản.
Tên cuốn sách của De Soto, nguyên bản: “The Mystery of Capital: Why Capitalism Triumphs in the West and Fails Everywhere Else”. Độc giả quan tâm có thể đọc bằng tiếng Việt toàn bộ tác phẩm trên Internet nhờ nhóm dịch thuật của TS. Nguyễn Quang A, nhưng chúng tôi hoàn toàn không liên quan đến công trình dịch thuật đó.
Download TCPT40 – Bản in (8.6MB)
Download TCPT40 – Bản thường (4MB)
Download TCPT40 – Bản mini (2.5MB)

Sự bí ẩn của tư bản (Phần 2) – TCPT số 41

Posted on Tháng Một 22, 2011 by phiatruoc
Vì sao Chủ nghĩa Tư bản huy hoàng tại phương Tây nhưng không thành công tại những nơi khác? Vì sao một phần nhỏ của xã hội tích lũy được tài sản và trở nên giàu có, biệt lập với phần còn lại, như thể họ được một chiếc chuông pha lê che chở? Tại sao việc sản sinh Tư bản lại trở thành một điều bí ẩn? Tại sao các quốc gia giàu có và đầy rẫy những chuyên gia kinh tế lại không giải thích rằng một chế độ sở hữu chính danh là điều sống còn để tạo ra Tư bản?
Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC tiếp tục giới tihệu đến quý độc giả Phần 2 về Sự bí ẩn của Tư bản do nhà kinh tế học người Peru Hernando de Soto biên soạn. Quý bạn đọc có thể xem lại Phần 1 tại đây hoặc qua trang chính tại www.phiatruoc.info.
Câu trả lời là vì ngay cả trong một thể chế sở hữu chính danh, cũng rất khó để có thể quan sát được kỹ lưỡng chu trình biến tài sản thành Tư bản. Nó nằm lẫn lộn giữa vô số các điều luật, các nghị định, quy tắc và định chế cấu thành hệ thống sở hữu. Trong cái mê cung luật pháp này, khó lòng để có thể hiểu hết hệ thống sở hữu chính danh thật sự hoạt động sự như thế nào. Cách duy nhất để quan sát, là tìm thấy một điểm lùi cho phép nhìn nhận hệ thống từ một góc nhìn không phụ thuộc vào luật pháp – hướng nghiên cứu mà chúng tôi đã thực hiện với phần lớn các công trình của mình.
Thể chế luật pháp chính thức của phương Tây tạo ra 6 ảnh hưởng cho phép các công dân của mình biến tài sản thành Tư bản:
1.     Xác định các tiềm năng kinh tế của tài sản
Tư bản được hiện hữu qua cách con người biểu hiện chúng bằng chữ viết – dưới dạng một chứng từ, hay một giấy tờ khác có tính khế ước – cho phép mô tả những đặc điểm quan trọng nhất của chúng trên bình diện kinh tế và xã hội, chứ không phải trên hình thái vật chất nhận diện được bằng mắt. Việc ghi nhận những đặc điểm kinh tế và xã hội cho phép miêu tả và xác nhận giá trị tiềm năng của Tư bản. Kể từ khi chúng ta quan tâm đến giấy tờ sở hữu ngôi nhà thay vì quan tâm đến ngôi nhà, ta đã đi một bước từ thế giới của vật chất sang thế giới trừu tượng của Tư bản.
Sự sở hữu chính danh chỉ hoàn toàn là một khái niệm trừu tượng. Bằng chứng là khi ngôi nhà đổi chủ, về mặt vật chất, nó hoàn toàn không thay đổi gì. Quyền sở hữu không nằm trong ngôi nhà, mà nằm trong khái niệm kinh tế bao trùm cái hiện hữu vật chất đó. Khái niệm này được thể hiện bằng một sự công nhận pháp lý, không mô tả các thuộc tính vật lý, mà các tiềm năng kinh tế xã hội chúng ta muốn gắn liền với chúng (ví dụ như các khả năng kinh tế khác nhau: cho phép một doanh nghiệp vay tiền mà không cần phải bán nhà nhờ các hình thức thế chấp, đảm bảo, hay dưới dạng một khế ước nào đó). Tại các quốc gia phát triển, sự hiện hữu dưới dạng chứng từ chính danh là một phương tiện đảm bảo quyền lợi các bên khác nhau, đồng thời thiết lập trách nhiệm nhờ chuyển tải toàn bộ thông tin, tham chiếu, quy tắc và các đặc tính khác đi cùng trách nhiệm.
Như vậy là quyền sở hữu chính danh đã đem lại cho phương Tây chu trình sản xuất ra giá trị thặng dư từ những tài sản vật chất. Ngay cả khi chu trình này xảy ra một cách hoàn toàn ngẫu nhiên, hệ thống sở hữu hợp pháp đã mở ra cho các quốc gia này con đường tiến từ không gian vật chất (các tài sản) về một không gian khái niệm trìu tượng của Tư bản, nơi mà tài sản chỉ hiện hữu dưới dạng các tiềm năng sản xuất.
2.     Tập trung các thông tin dàn trải vào một hệ thống duy nhất
Nếu như CNTB chỉ chói sáng tại phương Tây, và mù mờ tại phần còn lại của thế giới, thì đó là vì phần lớn các tài sản tại các quốc gia phương Tây đều được tập trung vào một hệ thống ghi danh sở hữu duy nhất. Quá trình thống nhất này không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Vào thế kỷ 19, những nhà chính trị, những nhà lập pháp và các quan tòa đã phải làm việc trong nhiều thập kỷ để tập trung vào một hệ thống sở hữu duy nhất tất cả các điều luật và quy tắc khác nhau quy định vấn đề sở hữu tại vô số các thành phố, các làng mạc, nông thôn. Quá trình này – một điểm mấu chốt trong lịch sử các quốc gia phát triển – đã cho phép tạo ra một cơ sở thông tin duy nhất bao trùm lên toàn bộ các dữ liệu và quy tắc công nhận của cải của những người dân – chủ sở hữu. Trước khi nó diễn ra, rất khó có thể tìm thấy các thông tin về sở hữu. Tại các vùng nông thôn, hay các thuộc địa, người ta lưu giữ thông tin và quy tắc sở hữu bằng các hình thức giản đơn, dưới dạng các biểu tượng, hay thậm chí chỉ bằng các lời nói của người làm chứng. Bởi vậy thông tin hoàn toàn bị xé lẻ, bị phân tán, và không thể truy cập được bởi một người bất kỳ vào một thời điểm bất kỳ.
Các quốc gia đang phát triển và các quốc gia XHCN cũ chưa biết cách tạo ra những hệ thống ghi danh sở hữu duy nhất và thống nhất. Trong số tất cả các quốc gia mà chúng tôi đã nghiên cứu, không quốc gia nào có một hệ thống lưu trữ duy nhất. Trong tất cả các trường hợp, chúng tôi tìm thấy một tập hợp các hệ thống, được quản lý chồng chéo bởi vô số các hình thức tổ chức mà một số mang hình thức pháp lý, một số khác còn không hề có tính pháp lý, biến đổi từ những nhóm doanh nghiệp nhỏ xíu đến các tổ chức phân phối nhà cửa. Hậu quả là, việc sử dụng tài sản của công dân các quốc gia này bị giới hạn bởi tầm nhìn của người chủ sở hữu, và thêm vào đó là những người quen biết ông ta. Tại các nước phát triển, nơi thông tin về hàng hóa và tài sản được chuẩn hóa và được hiểu một cách đồng nhất bởi bất cứ một công dân nào nhờ vào một nền tảng pháp lý duy nhất, khả năng sử dụng tài sản của người chủ sở hữu được nhân lên với tư duy tập thể của toàn xã hội.
Những độc giả phương Tây có thể sẽ rất ngạc nhiên rằng phần lớn các quốc gia trên thế giới vẫn chưa tập trung các chứng từ sở hữu không có tính pháp lý vào trong một thể chế hợp pháp duy nhất. Những công dân phương Tây hôm nay chỉ biết một luật pháp: đó là luật pháp chính thức hiện hành. Tuy nhiên, các hệ thống sở hữu không chính danh đã cho phép ghi nhận quyền sở hữu trước đây khắp nơi trên thế giới. Việc phương Tây thông qua một hệ thống sở hữu chính danh thực ra mới chỉ có từ 200 năm. Nếu như khó có thể ngược dòng lịch sử để mô tả nó, là bởi vì quá trình này được thực hiện trong một khoảng thời gian kéo dài, chứ không phải chỉ vào một thời điểm.
3. Gắn liền trách nhiệm với con người
Hòa nhập tất cả các hệ thống sở hữu vào một thể chế hợp pháp duy nhất giúp chúng ta định nghĩa lại khái niệm Quyền sở hữu, trong bối cảnh độc lập với các mối quan hệ cá nhân. Trước khi thể chế được thiết lập, các mối quan hệ này có ảnh hưởng rất lớn lên quyền sở hữu tại cấp địa phương. Quá trình hòa nhập thúc đẩy việc tạo trách nhiệm cho người chủ sở hữu, giúp họ bước ra khỏi cái khung hạn chế của địa phương nơi các mối quan hệ cá nhân bao trùm, và đặt họ vào trong một cái khung mới rộng lớn hơn của xã hội.
Bằng việc biến những người nắm giữ các tài sản thành những cá nhân có trách nhiệm với tài sản của mình, quyền sở hữu chính danh cho phép cá nhân bước ra khỏi đám đông. Người chủ sở hữu không còn cần phải dựa vào những mối quan hệ hàng xóm, hay thông qua các lề luật địa phương, để chứng nhận tài sản của mình. Họ được giải phóng khỏi chuyện đó, và tự do đi tìm kiếm những tiềm năng kinh tế mà tài sản của mình có thể đem lại. Quá trình giải phóng này tuy nhiên cũng có giá của nó. Kể từ khi nằm trong một thể chế hợp pháp chính danh, người chủ sở hữu không còn có thể hiện hữu không danh tính, thay vào đó trách nhiệm của anh ta bị thắt chặt. Những ai không thanh toán những hàng hóa và dịch vụ mình tiêu dùng sẽ bị nhận diện dễ dàng, phải nộp phạt hay chịu những hình thức kỷ luật khác, sẽ thấy lòng tin của người khác vào mình giảm hẳn. Nhà chức trách sẽ có thể biết được đã có những ai không tôn trọng luật pháp và hợp đồng. Họ có thể ngừng việc cung cấp các dịch vụ, hủy các khoản yêu cầu thế chấp tài sản, và rút lại một phần hoặc toàn bộ những ưu đãi mà người chủ sở hữu đang được hưởng.
Việc tôn trọng tài sản sở hữu và các giao dịch tại các quốc gia phương Tây không phải là một đức tính bẩm sinh của người dân nơi đây. Nó bắt nguồn từ sự tồn tại một hệ thống sở hữu chính danh được áp dụng hiệu quả. Thể chế này không chỉ đóng góp bảo vệ tài sản sở hữu, mà còn có vai trò đảm bảo an toàn cho các giao dịch. Từ đó, nó khuyến khích công dân các nước phát triển tôn trọng các chứng từ, tôn trọng các hợp đồng, và quan tâm đến luật pháp. Tôn trọng quyền sở hữu cũng khuyến khích người ta tiến hành các cam kết dễ dàng hơn.
Sự thiếu vắng quyền sở hữu hợp pháp giải thích vì sao công dân các quốc gia đang phát triển và các nước XHCN cũ không thể tiến hành các hợp đồng có lợi với những người mình không quen biết, cũng như không thể xin được tín dụng, bảo hiểm, hay bất cứ dịch vụ công cộng nào. Họ chẳng có khoản thế chấp nghiêm túc nào có thể làm đối trọng cho yêu cầu của mình. Không có chứng từ sở hữu hợp pháp, những người có thể tin vào lời cam kết của họ chỉ có thể là gia đình hoặc hàng xóm. Người chủ sở hữu chẳng có chứng từ – tức chẳng có gì để mất đó – là tù nhân của cái thế giới lạnh lùng không lòng tin giữa những người không quen biết, khi Chủ nghĩa Tư bản chưa thăng hoa.
4.     Giúp các tài sản dễ được nắm bắt hơn
Một trong những đóng góp quan trọng nhất của thể chế sở hữu chính danh là nó cho phép nắm bắt các tài sản một cách tối đa, nhờ đó chúng ta có thể dễ dàng làm việc với chúng hơn. Khác biệt với các tài sản vật chất, các chứng từ đại diện có thể được kết hợp, hoặc chia tách, được huy động và sử dụng một cách thuận tiện cho việc giao dịch trên thị trường. Nhờ tách rời khía cạnh kinh tế của một tài sản khỏi dạng vật chất định hình cho nó, ta nắm bắt được sự hình thái trìu tượng của Tư bản – hình thái giúp nó có thể thích ứng được với những nhu cầu giao dịch bất kỳ.
Nhờ mô tả tài sản bằng cách phân loại, một thể chế sở hữu chính danh có thể cho phép so sánh 2 ngôi nhà có kiến trúc khác nhau, nhưng được xây dựng với cùng mục đích sử dụng. Nó cho phép phân biệt nhanh chóng và không tốn kém những điểm tương tự cũng như những điểm khác biệt giữa hai tài sản, mà không cần tiến hành kiểm nghiệm cụ thể mỗi tài sản như thể nó là duy nhất.
Mục đích của việc mô tả theo những tiêu chuẩn mô tả định trước cho phép cho việc kết hợp các tài sản thuận tiện. Thể chế sở hữu đòi hỏi các tài sản phải được mô tả, đặc tính hóa theo cách giúp mọi người có thể nắm bắt nhanh nhất những đặc tính của chúng, cũng như nhìn thấy những điểm đồng điệu giữa chúng và các tài sản khác, để có thể mường tượng ra quá trình kết hợp một cách nhanh chóng nhất. Các phương pháp ghi đăng ký được chuẩn hóa cho phép xác định ích dụng của tài sản có khả năng đem lại nhiều lợi ích nhiều nhất khi tài sản được sử dụng.
Các chứng từ đại diện cũng cho phép việc chia tách giá trị của tài sản mà không cần động chạm đến chia tách thật sự tài sản vật chất. Ví dụ như tài sản là một nhà máy mà người ta không thể tách ra để bán nhìn góc độ vật chất, ta có thể chia tách nó từ góc nhìn Tư bản tức là coi tài sản như một khái niệm kinh tế. Công dân của các quốc gia phát triển có thể chia tách tài sản của họ thành các cổ phiếu, sau đó biến các chứng từ này thành tài sản của nhiều người khác nhau, mỗi chứng từ có thể có tạo ra những quyền khác nhau và phục vụ những mục đích khác nhau.
Những chứng từ đại diện cho tài sản cũng có thể được dùng để thay thế cho các tài sản vật chất, cho phép chủ sở hữu và các doanh nghiệp ước tính những khả năng thế chấp nhằm tìm ra các hình thái sinh lợi nhiều hơn. Hơn thế, các chứng từ sở hữu chính thức được lập ra theo cách tạo thuận lợi cho việc đánh giá các thuộc tính của tài sản. Nhờ định chế hóa các chuẩn mức, thể chế sở hữu chính thức phương Tây đã cho phép giảm thiểu chi phí giao dịch liên quan đến huy động và sử dụng tài sản một cách đáng kể.
5. Tạo ra các mạng lưới
Nhờ mô tả các tài sản để chúng trở nên dễ nắm bắt, nhờ gắn liền người chủ sở hữu với tài sản, gắn liền tài sản với các địa chỉ và thuộc tính được luật pháp công nhận, nhờ công bố các thông tin liên quan đến lịch sử các tài sản và những người chủ sở hữu trước đó của chúng, thể chế sở hữu tài sản phương Tây đã biến những công dân của mình thành những thành viên của một mạng lưới tác nhân kinh tế, mà danh tính và trách nhiệm mỗi người đều có thể được xác định. Thể chế sở hữu vậy là đã tạo ra một cơ sở hạ tầng kết nối con người lẫn nhau, cái mà giống như một ga trung chuyển hàng hóa, cho phép đảm bảo trật tự lưu thông tài sản giữa các chủ thể khác nhau. Đóng góp của sở hữu chính danh cho nhân loại không nằm ở chỗ nó bảo vệ quyền sở hữu. Những người vô gia cư, những hiệp hội ủng hộ vấn đề cư trú, mafia, hay thậm chí ngay cả các bộ lạc nguyên thủy cũng đã biết cách bảo vệ tài sản của mình hiệu quả. Sự thay đổi lớn nhất mà thể chế sở hữu đem lại là nhờ nó cải thiện sự lưu thông của thông tin tài sản, cũng như những tiềm năng của chúng. Chúng nâng cao vai trò của người chủ sở hữu.
Thể chế sở hữu phương Tây trao cho các doanh nghiệp những thông tin về tài sản và người sở hữu chúng, những địa chỉ có thể kiểm chứng được, những thông số khách quan về giá trị tài sản, tất cả những chi tiết cho phép khởi tạo sự tin tưởng. Những thông tin này, cũng như sự tồn tại của một nền tảng pháp lý, cho phép quản lý rủi ro dễ dàng hơn, nhờ trung hòa với các công cụ bảo hiểm, cũng như bằng cách góp các tài sản lại cạnh nhau để đảm bảo các khoản nợ.
Hầu như chúng ta không để để ý rằng thể chế sở hữu của một quốc gia phát triển là một hệ thống mạng lưới phức tạp cho phép các cá nhân xây dựng các mối quan hệ với các khu vực công cộng hay tư nhân, và đạt được những hàng hóa và dịch vụ mới (điều này quá hiển nhiên). Tuy nhiên, chúng ta sẽ không thể hiểu được làm thế nào các tài sản có thể làm được nhiều chức năng như thế nếu các công cụ  của thể chế sở hữu không tồn tại.
6. Bảo đảm các giao dịch
Một lý do quan trọng mà thể chế sở hữu có thể hoạt động như một mạng lưới là vì tất cả các giấy tờ đại diện cho quyền sở hữu (chứng từ, giấy sở hữu, tài sản lưu động, hợp đồng mô tả các thuộc tính kinh tế đáng kể của tài sản) được theo sát và bảo đảm một cách liên tục khi chúng được chuyển giao trong không gian và thời gian. Tại các nước đang phát triển, chính quyền là những người canh gác quá trình trung chuyển đó. Chính quyền quản lý các kho lưu trữ nơi lưu giữ tất cả các thông tin mô tả các thuộc tính của tài sản (đất đai, động sản và bất động sản, tàu thuyền, ngành nghề, hầm mỏ, sân bay…). Những hồ sơ thông tin này thông báo cho bất cứ ai muốn sử dụng tài sản những hạn chế hay những thuận lợi khi sử dụng chúng: ví dụ như một số tài sản bị hạn chế vì quyền sở hữu bị nhượng một phần cho mục đích công, một số khác đưởng hưởng quyền đi qua mảnh đất bên cạnh, một số khác nữa gắn liền với các hợp đồng cho thuê, hoặc có các quyền phái sinh từ quyền sở hữu, hoặc trong tình trạng vỡ nợ hay cầm cố. Bên cạnh các hệ thống lưu trữ công cộng, vô số các dịch vụ tư nhân (cửa hàng cầm cố, văn phòng chuyên gia định giá) cũng được phát triển để giúp các bên liên quan có thể xác định, trung chuyển, theo dõi các giấy tờ sở hữu, nhằm thúc đẩy và đảm bảo việc sản xuất giá trị thặng dư.
Mặc dù các thể chế sở hữu phương Tây có chức năng bảo vệ cả quyền sở hữu và các giao dịch đi cùng chúng, mục đích chính thực ra rõ ràng là để bảo vệ các giao dịch. Tạo ra sự an toàn trong giao dịch cho phép người ta tin tưởng vào giao dịch, do đó cho phép mọi người toàn tâm ý nghĩ đến việc bắt tài sản của họ làm việc như là một Tư bản. Sự quan tâm đến bảo vệ an toàn giao dịch cũng đã cho phép các công dân tại các nước phát triển trao đổi một số khối lượng tài sản khổng lồ mà hầu như chỉ tiến hành rất ít giao dịch. Ngược lại, tại các quốc gia đang phát triển, các quyền và các định chế sở hữu vẫn gắn liền với các truyền thống luật thuộc địa hay luật La mã cũ, tức là chỉ nhằm bảo vệ tài sản. Các hệ thống luật này rút cục trở thành những kẻ canh gác cho sự bất động của Tư bản chết.
Kết luận
Việc những người nghèo tại các quốc gia đang phát triển và XHCN cũ không tham dự được vào chu trình biến tài sản thành Tư bản đến chính từ việc họ không được hưởng lợi ích từ 6 ảnh hưởng này của thể chế sở hữu. Câu hỏi đặt ra cho các quốc gia này không phải là làm thế nào để giúp họ sản xuất nhiều hơn ? hay cho họ nhiều tiền viện trợ hơn ? mà chủ yếu phải là giúp họ có nhận thức đúng đắn về các định chế luật pháp, cũng như huy động được các xu thế chính trị cho phép xây dựng một thể chế sở hữu nơi người nghèo cũng có thể dễ dàng hiểu và có khả năng tham gia. Nhà sử học người Pháp Fernand Braudel đã từng không thể hiểu được vì sao CNTB phương Tây, ngay cả vào những thời điểm huy hoàng nhất cũng lại chỉ phục vụ cho một thiểu số người, giống như thể ngày hôm nay nó chỉ phục vụ cho một thiểu số quốc gia.
Vấn đề cơ bản, là làm thế nào để biết được vì sao một phần của xã hội, mà tôi không ngần ngại gọi chúng là những nhà Tư bản, lại sống trong một không gian đóng kín, như một khối u biệt lập trong cơ thể ? Tại sao chúng lại không dễ dàng nhân bản ra khỏi cái tổ của mình, để chinh phục toàn xã hội ? Lý do có thể là, thật ra đó chính là điều kiện để chúng có thể tồn tại. Xã hội của ngày hôm qua chỉ cho phép tích tụ một tỷ lệ lớn Tư bản trong một số ngành nghề, trên một số đối tượng, chứ không thể nhân ra cho toàn thể nền kinh tế thị trường vào mọi lúc”.
Tôi nghĩ rằng câu trả lời cho những nghi vấn của Braudel nằm trong việc một người bình thường bước vào thể chế sở hữu chính danh vẫn còn rất khó khăn, trước đây trong quá khứ của các nước phương Tây, và ngày hôm nay tại các nước đang phát triển và các nước CNXH cũ. Một số nhà đầu tư trong nước và nước ngoài hiểu lợi ích của sự chính danh đó đang sở hữu Tư bản: tài sản của họ ít nhiều được hòa lẫn với nhau, dễ nắm bắt, chúng được liên hệ với nhau và được bảo vệ bởi một hệ thống sở hữu bằng luật pháp. Nhưng những người này chỉ đại diện cho một tầng lớp thiểu số vô cùng nhỏ trong xã hội – những người có điều kiện thuê cho mình những luật sư giỏi nhất, những người có những quan hệ và biết cách gây dựng quan hệ, những người có kiến thức cũng như sự kiên nhẫn để dạo chơi giữa đại dương những quy tắc hành chính liên quan đến các vấn đề sở hữu. Còn phần lớn người dân, những người không tìm thấy sự hiện diện xứng đáng cho thành quả lao động của mình trong thể chế sở hữu chính danh, đang sống ở phía bên ngoài cái vòng ưu đãi mà Braudel nói tới.
Cái vòng ưu đãi đóng kín đó làm cho CNTB như là một câu lạc bộ chỉ mở cửa cho những người đang có đặc quyền, trong khi thu hút sự thèm khát của hàng tỷ con người không thể đi vào phía bên trong đó được. Cái CNTB phân biệt đối xử đó sẽ còn tồn tại cho đến khi nào mà chúng ta còn chưa nhận ra những yếu kém cơ bản trong hệ thống pháp lý và chính trị của bao nhiêu quốc gia, những yếu kém đang ngăn cản đa số người dân không thể tiếp cận với thể chế sở hữu.
Đã đến lúc chúng ta tìm cách giải thích cho phần lớn các quốc gia chưa thành công cho việc tạo ra một thể chế sở hữu mở. Đã đến lúc chúng ta khoan thủng tấm màn bí ẩn đó, vào thời điểm mà thế giới thứ ba và các quốc gia CNXH cũ đang khát khao tìm cách tái thiết CNTB ở khắp nơi nhưng lại không biết cách làm cho đúng.
Hernando de Soto
Đông A chuyển ngữ
THTNDC – ngày 01/11/2010
©2010 Tạp chí Thanh niên PHÍA TRƯỚC
Download TCPT 41 – Bản HD (6.7MB)
Download TCPT41 – Bản SD (3.7MB)
Download TCPT41 – Bản Mini (2.5MB)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: