Tin Ngòai Nước ngày 08.01.2010

Tín Châu tổng hợp

Thẩm phán Mỹ ra lệnh cho Twitter giao nộp các tài liệu WikiLeaks

Một thẩm phán liên bang ở Mỹ đã ra lệnh cho trang mạng xã hội Twitter giao nộp cho chính phủ Mỹ những tài liệu liên quan tới WikiLeaks.
Những tài liệu này bao gồm thông tin liên hệ tới Julian Assange, người sáng lập WikiLeaks, và Bradley Manning, chuyên viên máy tính của Lục quân Hoa Kỳ(VOA)

RFA

Hy vọng gì ở Đại hội Đảng CSVN lần 11?

2011-01-07

Đại Hội Đảng CSVN sẽ diễn ra tại Hà Nội, bắt đầu từ ngày 11 tháng 1 nhằm bầu chọn thành phần lãnh đạo mới và đề ra phương hướng phát triển đất nước.

Hàng xa xỉ có thực sự cần thiết?

2011-01-07

Theo số liệu thống kê mới được Bộ Công thương công bố, thì trong năm 2010, Việt Nam đã nhập khẩu những mặt hàng xa xỉ lên đến10 tỷ đô la.

Hàng trăm truyền đơn chống Chính phủ Campuchia rải ở Siem Reap

2011-01-07

Bộ nội vụ Campuchia đang tìm bắt người rải khoảng 141 tờ truyền đơn tại tỉnh Siem Reap vào hôm ngày 6 tháng giêng vừa qua.

Dự luật “Chế tài Nhân quyền Việt Nam”

2011-01-07

Dân biểu Ed Royce hôm mùng 5 tháng 1 giới thiệu dự luận cấm vận dành cho Việt Nam do những vi phạm về nhân quyền.

Tin Việt Nam

Tin Quốc tế

BBC

thứ bảy, 8 tháng 1, 2011

Tình báo Pháp điều tra vụ do thám tại công ty Renault

Công ty Renault đã ngưng chức của ba viên quản lý cao cấp sau khi kết quả của một điều tra về vụ tiết lộ bí mật của loại xe chạy bằng điện do công ty này đang sản xuất cho các công ty kình địch.

Công ty chế tạo xe hơi của Pháp nói rằng vụ dọa thám công nghiệp này là một mối đe dọa đến “tài sản chiến lược” của họ.

Bộ trưởng công nghiệp Pháp đã mô tả trường hợp của công ty Renault, mà trong đó nhà nước sở hữu 15%, như là “một cuộc chiến kinh tế”.

Nhật báo thân hữu Le Figaro đưa tin, dựa theo nhiều nguồn tin khác nhau, là các bí mật này lien quan đến kỹ thuật chế tạo bình điện và động cơ của loại xe điện này, mà theo kế hoạch sẽ được xuất xưởng sau năm 2012.

Kỹ thuật tân tiến

Chúng tôi không thể chấp nhận được tại sao một sáng chế được tài trợ bởi người dân Pháp đóng thuế lại rơi vào tay của Trung Quốc

Nguồn tin từ Bộ Công nghiệp Pháp

Ba viên quản lý bị ngưng việc này bị cáo buộc là đã bán các bằng sáng chế chưa được đăng ký cho một hay nhiều trung gian trong ngành do thám kinh tế.

Tất cả ba người này đều được cơ hội trả lời các cáo buộc trước khi nhận lấy hình phạt, và một trong số này là một thành viên trong ban điều hành công ty Renault.

Phái viên đài BBC Christian Fraser hiện có mặt tại Paris nói rằng đây là một dấu hiệu cho thấy chính phủ Pháp coi vụ này rất quan trọng cho nên đã yêu cầu cơ quan tình báo điều tra.

Phái viên đài chúng tôi cho biết là ngành chế tạo xe hơi là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế của Pháp và là một ngành thu dụng nhiều nhân công.

Một trong các thuận lợi lớn nhất của các công ty chế tạo xe hơi tại phương Tây là họ có được kỹ thuật tân tiến giúp cho họ cạnh tranh với các công ty thu nhận lao động giá rẻ bên ngoài Âu châu.

Theo các nguồn tin bên trong công ty Renault, thì công ty tình nghi nhận được các bí mật công nghiệp này dường như là một công ty Trung Quốc.

Một nguồn tin từ Bộ Công Nghiệp Pháp, yêu cầu được dấu tên đã nói với Pháp Tấn Xã rằng: “Chúng tôi không thể chấp nhận được tại sao một sáng chế được tài trợ bởi người dân Pháp đóng thuế lại rơi vào tay của Trung Quốc.”

Công ty Renault, cùng với đối tác Nissan, đã đầu tư rất nhiều vào công nghiệp chế tạo xe hơi chạy bằng điện.

Cả hai công ty này dự trù sẽ tung ra thị trường một số loại xe hơi chạy bằng điện trong vòng hai năm tới.

Người Việt ‘lạc quan nhất thế giới’?

Khảo sát về chỉ số lạc quan do tổ chức nghiên cứu dư luận BVA của Pháp và Viện Gallup của Mỹ thực hiện ở 53 quốc gia.

Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chỉ số lạc quan về kinh tế cao nhất.

Trong khi đó, Pháp “đội sổ” với 61% người được hỏi tỏ ra bi quan về tình hình kinh tế trong năm nay. Các nước phương Tây khác cũng không khá khẩm hơn, với 52% người Anh và 48% người Tây Ban Nha nói họ trông đợi sẽ còn nhiều khó khăn trong lĩnh vực kinh tế.

Cùng lạc quan với người Việt Nam là dân một số quốc gia đang phát triển như Brazil và Trung Quốc, đều cho là kinh tế năm 2011 sẽ thịnh vượng hơn các năm trước.

“Chỉ số lạc quan” nói chung của Việt Nam là 61%, bứt xa nhóm đứng thứ hai là Trung Quốc, Brazil và Peru với 49%.

Người Mỹ, giống như các nước phương Tây, tỏ ra khá lo lắng về triển vọng kinh tế. Chỉ có 25% người tham gia khảo sát ở Bắc Mỹ (Canada và Hoa Kỳ) cho rằng kinh tế năm 2011 sẽ có tiến bộ.

VOA

Thẩm phán Mỹ ra lệnh cho Twitter giao nộp các tài liệu WikiLeaks

Một thẩm phán liên bang ở Mỹ đã ra lệnh cho trang mạng xã hội Twitter giao nộp cho chính phủ Mỹ những tài liệu liên quan tới WikiLeaks.

Những tài liệu này bao gồm thông tin liên hệ tới Julian Assange, người sáng lập WikiLeaks, và Bradley Manning, chuyên viên máy tính của Lục quân Hoa Kỳ.

Ông Assange hiện đang tại ngoại hầu tra trong vụ án về xâm hại tính dục ở Thụy Điển.

Binh nhì Manning đang bị giam vì bị tố cáo là đã cung cấp cho WikiLeaks những công điện ngoại giao mật của Mỹ.

Hôm qua, các giới chức Hoa Kỳ nói rằng Bộ Ngoại giao đã cảnh báo hàng trăm nhân viên ngoại giao nước ngoài mà danh tánh bị tiết lộ trong các công điện do Wikileaks phổ biến về những mối đe dọa có thể có đối với sự an toàn của họ.

Giáo sĩ chống Mỹ trở về Iraq với thông điệp quen thuộc

Giáo sĩ Hồi giáo Shia ở Iraq có lập trường chống Mỹ, ông Moqtada al Sadr, đã hối thúc những người ủng hộ tiếp tục chống đối Hoa Kỳ trong bài nói chuyện công khai đầu tiên kể từ khi về nước sau hơn 3 năm lưu vong.

Hôm nay ông Sadr nói với hàng ngàn người ủng hộ tụ tập ở thành phố Najaf hãy dùng mọi phương tiện cần thiết để chống lại Hoa Kỳ và những nước khác đang chiếm đóng Iraq.

Ông cũng kêu gọi họ ủng hộ tân chính phủ nếu chính phủ có hành động để phục vụ người dân Iraq.

Ông Sadr đã về quê của ông ở Iraq hôm thứ Tư sau khi sống lưu vong ở Iran. Hiện chưa rõ ông định ở lại Iraq trong bao lâu.

Vietbao

Trung Quốc Vào Khúc Quanh

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

Nếu Trung Quốc bị nội loạn trong khúc quanh trước mắt thì Việt Nam sẽ bị họa lây…

Kết thúc loạt tổng kết về kinh tế Trung Quốc, mục Diễn đàn Kinh tế sẽ trình bày những xoay chuyển mà nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa gọi là “Khúc quanh của Trung Quốc”. Việt Nam có thể rút tỉa những kinh nghiệm gì từ quốc gia láng giềng rất có ảnh hưởng này? Xin quý thính giả theo dõi phần trao đổi do Việt Long thực hiện sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Trong loạt tổng kết về kinh tế Trung Quốc, từ giữa tháng 12 ông có trình bày cho thính giả một cách lượng giá kinh tế xứ này qua kỹ thuật thống kê rất đặc thù mà khó tin của họ để nói về những “cái nhất” của Trung Quốc trước khi phân tích lý do vì sao xứ này đang cần cải cách sau ba chục năm mở cửa. Vì ảnh hưởng mọi mặt của Trung Quốc đối với Việt Nam, xin đề nghị là kỳ này ông sẽ kết thúc về những gì mà Việt Nam cần chú ý.
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Về một quốc gia láng giềng rất lớn và có ảnh hưởng thực tế là áp đảo đối với Việt Nam, tôi nghĩ là chúng ta sẽ còn phải thường xuyên theo dõi, tìm hiểu và cập nhật, chứ không nên tự giới hạn riêng vào một lãnh vực là kinh tế. Trên đại thể thì tôi thiển nghĩ rằng sau ba chục năm mở cửa – tức là từ thời Đặng Tiểu Bình tiến hành cải cách vào năm 1979 – kinh tế Trung Quốc đang đi vào khúc quanh quan trọng với khá nhiều rủi ro vì những bất trắc của họ. Cho nên kỳ này, ta sẽ tạm kết luận về khúc quanh đó.
Việt Long: Ngày 19 tháng Giêng, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào sẽ chính thức thăm viếng Hoa Kỳ, với một phái đoàn doanh gia rất hùng hậu. Kể từ năm 2006 đến nay, đây là lần đầu tiên mà lãnh đạo Trung Quốc có thượng đỉnh song phương với lãnh đạo Mỹ ngay trên đất Mỹ. Trong dịp này, ông Hồ Cẩm Đào có thể thăm viếng một số cơ xưởng tại Hoa Kỳ có tiền đầu tư của các doanh nghiệp Trung Quốc, điều ấy có là chỉ dấu về một khúc quanh của xứ này hay không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Ta không quên là năm qua, lãnh đạo Trung Quốc đã thăm viếng các nước như Pháp, Ấn Độ, Cộng hoà Hồi quốc Pakistan và dự lễ ký kết nhiều hợp đồng trị giá tới 60 tỷ Mỹ kim với ba xứ đó. Rồi tuần này, Phó Thủ tướng Lý Khắc Cường còn thăm ba nước Âu châu trong tám ngày, với hy vọng tung tiền mua lại một số khoản nợ của Âu châu để có thể cứu nguy cho đồng Euro. Ông Lý Khắc Cường là một kinh tế gia và có khả năng sẽ làm Thủ tướng từ đầu năm 2013 trở đi trong vòng 10 năm tới.
– Với dự trữ ngoại tệ gần bằng 2.700 tỷ Mỹ kim, Trung Quốc có nhiều khả năng tác động về kinh tế và ngoại giao chứ không còn là một xứ lạc hậu đang cần đầu tư và kỹ thuật của các nước công nghiệp hoá như trước. Việc doanh nghiệp Trung Quốc sẽ đầu tư ngược vào Mỹ thật ra không nhiều và chưa đáng kể, nhưng cũng phần nào là một chỉ dấu có ý nghĩa.
– Tuy nhiên, xuyên qua mấy việc ấy, ta nên thấy ra sự chuyển hướng là kinh tế Trung Quốc đang đổi từ hình thái sản xuất hàng hóa chế biến qua hình thái khác, với tỷ trọng cao hơn của các khu vực dịch vụ hay tài chính, tương tự Nhật Bản cách đây 40 năm hay Nam Hàn và Đài Loan cách đây 20 năm. Khi ấy, Trung Quốc sẽ không thể đạt tốc độ tăng trưởng rất cao như hiện nay và nền kinh tế ta gọi là “đi xe đạp” mà chậm lăn bánh thì sẽ gặp vấn đề với ít ra là 500 triệu dân vẫn còn bần cùng và chưa ra khỏi trạng thái kinh tế nông nghiệp. Ưu thế dân số đông khiến xứ này là cường quốc kinh tế vượt qua Đức hay Nhật Bản sẽ lại thành nhược điểm về xã hội và là bài toán cho thế hệ lãnh đạo thứ năm kể từ sau Đại hội 18, từ đầu năm 2013 trở đi. Mâu thuẫn là ở đó.
Việt Long: Nếu ta hiểu cho đúng thì chính là vào khúc quanh này mà các mâu thuẫn chồng chất bên trong Trung Quốc có thể phát tác và gây bất ổn nội bộ lẫn rủi ro về đối ngoại cho xứ khác?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa đúng như vậy vì Trung Quốc có rất nhiều mâu thuẫn nội tại.
– Thứ nhất là mâu thuẫn về địa dư hình thể mà mình đã phân tích rất nhiều lần vì có thể dẫn tới nội loạn như đã từng xảy ra trong lịch sử xứ này. Thứ hai là mâu thuẫn về quyền lợi và nhận thức giữa các thành phần lãnh đạo tại trung ương và các địa phương ở ngay trong hệ thống chính trị. Thứ ba là mâu thuẫn giữa sinh hoạt kinh tế thị trường vốn đòi hỏi tự do và minh bạch với chế độ chính trị độc đảng phủ chụp lên trên. Thứ tư là mâu thuẫn trong cách nhìn của các phần tử ưu tú trong và ngoài đảng về vị trí của Trung Quốc xuất phát từ mặc cảm tự ti và tự tôn trong lịch sử với yêu cầu hiện đại của một thế giới hội nhập và liên lập là phải có sự hợp tác giữa các quốc gia với nhau. Chúng ta sẽ còn phải trở lại những mâu thuẫn đó vì chúng ảnh hưởng tới an ninh của Việt Nam. Trong bài tổng kết kỳ này, tôi chỉ xin nói riêng về loại thách đố kinh tế trước mắt.
Việt Long: Thưa ông, thách đố đầu tiên là những gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Chúng ta cần trở lại hai khía cạnh rất dễ gây lẫn lộn về nhận thức khi phải đánh giá. Thứ nhất là khía cạnh “chu kỳ” là những thăng trầm khách quan của kinh tế quốc gia hay quốc tế; thứ hai là khía cạnh cơ cấu nằm sâu bên trong một hệ thống kinh tế chính trị.
– Sau một giai đoạn tăng trưởng đều, kinh tế thế giới trôi vào chu kỳ suy trầm khởi sự từ nước Mỹ vào năm 2008, mà không chỉ vì Hoa Kỳ, và quan hệ kinh tế giữa các nước phải điều chỉnh để thích ứng. Nôm na là hết còn tình trạng các nước công nghiệp hóa cứ vay tiền và nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Trung Quốc có bị hiệu ứng như vậy nên đã phải lật đật đối phó.
– Họ ráo riết tăng chi để đầu tư và ào ạt bơm tín dụng để kích thích sản xuất hầu nền kinh tế xe đạp khỏi bị đổ khi xuất khẩu bị co cụm. Việc ấy lại trùng hợp với một chu kỳ về chính trị xin gọi là “xởi nởi lạc quan”, cứ năm năm lại ráo riết đầu tư khi chuẩn bị Đại hội đảng và kế hoạch kinh tế năm năm tới. Nhờ vậy mà khi cả thế giới bị sa sút kinh tế xứ này tăng trưởng mạnh trong hai năm qua và cũng vì vậy mà lãnh đạo Việt Nam có thể đánh giá sai về ưu điểm của mô hình phát triển Trung Quốc.
Việt Long: Bây giờ, biện pháp kích thích bất thường đó coi như đã đi hết sự vận hành của nó và Trung Quốc phải trở lại với bài toán về cơ cấu, tức là phải chuyển hướng vào khúc quanh, như ông vừa trình bày?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Thưa đúng như vậy vì chu kỳ đình đọng vừa qua đã đẩy lui yêu cầu cải cách thêm hai năm và còn khiến kinh tế bị nguy cơ lạm phát. Trong tương lai trước mắt, kinh tế xứ này sẽ bị một lúc hai chuyện đáng ngại. Đó là lạm phát, kể cả lạm phát vì thương phẩm thế giới sẽ lên giá khi kinh tế hồi phục và sự giảm đà tăng trưởng, sẽ không mãi mãi là 9-10% như trước. Mà dưới 8% là họ gặp nguy cơ động loạn xã hội như chúng ta đã trình bày nhiều lần.
– Tức là khi Đại hội đảng nhóm họp vào tháng 10 năm 2012 như họ dự tính thì tình hình kinh tế lại bớt sáng sủa, mà xứ này sẽ có nền sản xuất vừa công nghiệp hóa vừa dịch vụ với năng suất kém trên một nền móng thật ra vẫn còn nông nghiệp lạc hậu hay nông thôn quá đông đúc. Trong cái khúc quanh ngặt nghèo đó, sai lầm về chính sách kinh tế rất dễ xảy ra vì dù sao hệ thống quản lý kinh tế vĩ mô của họ vẫn còn quá sơ sài. Cho nên sau 30 năm mở cửa để công nghiệp hóa, mặt trái của lối biểu dương khí thế rất hào hùng đáng nể với thế giới là rất nhiều thách đố đáng sợ ở bên trong.
Việt Long: Dù ông có thể chỉ muốn tập trung vào đề mục kinh tế, ta vẫn phải nhìn thấy sức bành trướng rất mạnh của Trung Quốc trong thời gian qua. Một ngẫu nhiên vào dịp cuối năm là khi báo chí Nhật và giới chức quân sự Mỹ cùng nói đến mối đe dọa quân sự của Trung Quốc, thí dụ như đòi khống chế toàn cõi Đông hải. Chuyện kinh tế sẽ ảnh hưởng thế nào tới mối nguy này?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Với sức mạnh kinh tế mới có, lãnh đạo Trung Quốc có thể hiện đại hóa quan niệm chiến lược của họ về “khu vực trái độn”. Xưa kia, đây là một khái niệm phòng thủ bao trùm lên các vùng phiên trấn mà họ chiếm đóng, như Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông và khu vực gọi là Mãn Châu sát tới bán đảo Triều Tiên. Bây giờ, vùng trái độn ấy mở rộng ra ngoài, ra tới “biển xanh lục” là khu vực cận duyên, gồm có cả cái “lưỡi bò” ngoài Đông hải của Việt Nam.
– Vì lần đầu tiên trong lịch sử phải giao thương với bên ngoài để phát triển kinh tế, từ hai chục năm nay, Trung Quốc muốn trở thành đại cường hải dương thay vì là một cường quốc đại lục như trong quá khứ và động thái ấy tất nhiên gây e ngại cho các quốc gia khác. Với nhiều phương tiện kỹ thuật hiện đại, lãnh đạo xứ này có thể tìm đường tắt bằng siêu kỹ thuật điện tử để giành thế mạnh trong tương quan lực lượng với xứ khác, thí dụ như hoả tiễn đạn đạo chống lại các chiến hạm Hoa Kỳ.
– Tuy nhiên, Trung Quốc không hề có truyền thống hải quân như nhiều cường quốc khác, thí dụ là Liên bang Nga, Nhật Bản hay Hoa Kỳ và phải mất nhiều thập niên nữa mới tiến tới vị trí thật sự đáng ngại cho các lân bang. Tôi có thể lạc quan về cách nhìn này, nhưng lại rất bi quan khi chú ý đến khía cạnh khác ở bên trong.
Việt Long: Khía cạnh đó là gì?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Trung Quốc đang ráo riết đầu tư vào hạ tầng chuyển vận bên trong để khai thông các khu vực xưa kia nằm sâu trong đất liền, như Nội Mông, Tân Cương, Trung Á và gần đây nhất là Tây Tạng qua việc họ đào đường hầm xuyên qua Hy Mạ Lạp Sơn để trổ ra tiểu bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ, kết hợp với các dự án khai phá tại Pakistan để khống chế cả Ấn Độ dương. Trung Quốc đang muốn sửa lại cả địa dư hình thể của lãnh thổ và sẽ có ảnh hưởng địa dư chính trị với các lân bang, nhất là các nước nghèo yếu lạc hậu mà họ dễ mua chuộc.
– Song song, việc phát triển các khu vực kinh tế tại biên giới của Quảng Tây và Vân Nam với Việt Nam và những dự án đang thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam cho thấy Việt Nam gặp nguy cơ rất lớn mà lại không có sức mạnh như Ấn Độ hay Nhật Bản. Nếu Trung Quốc bị nội loạn trong khúc quanh trước mắt thì Việt Nam sẽ bị họa lây. Nếu họ vượt qua được khó khăn này thì Việt Nam lại càng không yên lành và trôi dần vào trật tự Trung Hoa.
– Câu kết luận là khi thấy Trung Quốc chuẩn bị Đại hội đảng cho khóa 18 và đã bắt đầu tuyển chọn nhân sự lãnh đạo các tỉnh để sau này là thế hệ thứ sáu sẽ lãnh đạo quốc gia trong 10 năm tới, mà lại nhìn vào cách đảng Cộng sản Việt Nam bước vào Đại hội khóa 12 trong mươi ngày nữa thì chúng ta không thể yên tâm được. Vấn đề Trung Quốc của thế giới thì các nước khác có thể cùng phối hợp để ứng phó chứ vấn đề Trung Quốc của Việt Nam lại nằm ngay trong đảng Cộng sản Việt Nam cho nên tình hình quả thật là rất đáng lo ngại. Đáng lo nhất chính là sự dửng dưng và lạc quan của nhiều người ở trong nước trước sự lãnh đạo kỳ lạ của đảng Cộng sản!

Nguoiviet

Tìm thấy ếch ‘ma cà rồng bay’ ở VN

Vì mầu sắc và con nòng nọc của chúng lại có răng nanh rất lạ, loại ếch này được gọi là ếch cây ma cà rồng, tên khoa học là Rhacophorus vampyrus.

Thật ra, loài ếch “ma cà rồng” này lần đâu tiên được bà Jodi Crowley, nhà chuyên khảo sinh vật lưỡng cư, nhìn thấy từ năm 2008 ở các cùng rừng núi cao phía Nam Việt Nam.

Thân chúng chỉ dài khoảng 5 cm. Con trưởng thành đẻ trứng ở các vũng nước nhỏ trên thân cây cao. Ðiều này giúp cho chúng bảo vệ các con sơ sinh của chúng khỏi sự tấn công của các loại sinh vật khác nếu nòng nọc đẻ ở ao, hồ hay vũng nước trên mặt đất.

“Chúng hoàn toàn không có lý do gì để đi xuống mặt đất.” Bà Jodi Crowley nói. Bà là chuyên viên sinh vật lưỡng cư của viện bảo tàng Úc ở Sydney.

Chuyện không cần phải bò hay nhảy xuống mặt đất không phải là lý do để gọi chúng là “ếch ma cà rồng” nhờ khả năng hút máu. Thật ra, tên đặt cho chúng như vậy vì các răng nanh cong của các con nòng nọc của chúng mà các nhà khoa học mới khám phá trong năm 2010.

Các con nòng nọc của loài ếch nhái thường có mồm gần giống như cái mỏ. Nhưng nòng nọc của ếch cây ma cà rồng lại có một cặp răng móc vừa cong vừa đen nhô ra ở hàm dưới. Lần đầu tiên các nhà khoa học lại nhìn thấy các con nòng nọc có răng nanh như thế và họ cũng không biết các răng đó dùng cho nhu cầu gì.

Theo bài viết trên tạp chí National Geographic (cơ quan tài trợ một cho cuộc khảo cứu của bà Crowley) ếch ma cà rồng nuôi con bằng cách đẻ các trứng không thụ tinh vào các ổ nòng nọc nhìn giống như một đám bọt để các con nòng nọc làm đồ ăn.

Bà Crowley đặt giả thuyết rằng có thể các răng nanh cong đó được dùng để ăn trứng. Loại ếch ma cà rồng này sống ở trên khu vực núi Bà thuộc cao nguyên Lang Biang, cao độ từ 1,400 mét đến 2,000 mét.

Ngũ Giác Ðài cắt $78 tỉ tiền mua vũ khí mới

Khoản cắt giảm này liên quan đến các chương trình sản xuất vũ khí mới bao gồm máy bay tàng hình F-35 và xe thiết quân vận EFV.

Chủ tịch Ủy Ban Quốc Phòng Hạ Viện, ông Howard McKeon, cho báo chí hay hôm Thứ Năm sau cuộc điều trần của ông Gates rằng việc cắt giảm mới này trầm trọng hơn những gì các công ty quốc phòng chờ đợi trước đó.

“Tôi không hài lòng,” ông McKeon nói. Quốc Hội là cơ quan có thẩm quyền về ngân sách quốc phòng và có thể sẽ không đồng ý với việc cắt giảm.

Hồi tháng 5 năm ngoái, ông Gates khởi sự nỗ lực cắt giảm $100 tỉ trong nội bộ để có đủ tiền chi trả cho binh sĩ và nỗ lực canh tân quân đội.

Hồi đầu tuần này có các nguồn tin cho hay ông Gates bị áp lực từ tòa Bạch Ốc là phải kiếm thêm các lãnh vực có thể cắt giảm để tiết kiệm thêm nữa.

Con số cắt giảm thêm $78 tỉ này có nghĩa là thêm một số chương trình võ khí bị hủy bỏ hay thu hẹp vì ông Gates muốn hủy các giao kèo mua võ khí có ưu tiên thấp và giảm chi phí điều hành.

Các nhà lập pháp thường ngăn cản nỗ lực của phía hành pháp nhằm hủy bỏ các giao kèo võ khí quá tốn kém vì đây là nguồn cung cấp công ăn việc làm với lương cao trong khu vực họ đại diện.

Một thí dụ điển hình là Ngũ Giác Ðài từ 5 năm nay muốn hủy bỏ giao kèo chế tạo một động cơ mới cho loại phi cơ Lockheed Martin Corp. F-35 JSF, hiện do hai công ty General Electric và Rolls-Royce cùng nghiên cứu và vẽ kiểu, tuy nhiên các nhà lập pháp nhất định không cho chấm dứt chương trình này.

Ngũ Giác Ðài cũng dự trù sẽ hủy bỏ một chương trình chế tạo hỏa tiễn địa-không của công ty Rahtheon Co, và kéo dài thời gian chi trả cho chương trình chế tạo phi cơ F-35.

Phía Quốc Hội cũng bày tỏ sự quan tâm về dự tính chấm dứt kế hoạch mua loại thủy thiết vận xa có tên Expeditionary Fighting Vehicle (EFV), nặng 40 tấn, do General Dynamics vẽ kiểu, được trang bị hỏa lực mạnh và có thể chở các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến từ ngoài khơi vào trong bờ rồi tiếp tục chiến đấu trên bộ

Dân Biểu Bill Young, chủ tịch Ủy Ban Ngân Sách Quốc Phòng Hạ Viện, cho báo chí hay quân chủng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ từ trước đến nay vẫn nói rằng họ cần loại thiết vận xa này và đã đầu tư nhiều tiền vào chương trình chế tạo.

Việc hủy bỏ kế hoạch chế tạo thủy thiết vận xa EFV không chỉ là sự thiệt hại cho công ty kỹ nghệ quốc phòng mà còn cho chính quân chủng Thủy Quân Lục Chiến Mỹ vốn đang tìm cách khẳng định thế mạnh truyền thống từ trước đến nay của mình là từ biển đổ bộ vào đất liền. Nếu không có các thủy thiết vận xa này, cách hành quân của TQLC cũng sẽ không khác các đơn vị bộ binh được trực thăng vận. (V.Giang)

Calitoday

Động đất 4.4 độ tại San Jose

Cali Today News – Động đất đã rung chuyển tại San Jose, nơi có cộng đồng Việt Nam đông nhất tại hải ngoại, vào lúc 4:10 chiều ngày thứ sáu, 7 tháng 1, 2011.
Trong lúc tôi đang có mặt tại tiệm Contempo Furniture và đang nói chuyện qua điện thoại với ký giả Hạnh Dương, thì cơn động đất đã xảy ra.
Cùng lúc đó, điện thoại từ văn phòng cho biết là cơn động đất vừa mới diễn ra và nhân viên vội chạy ra ngoài đường để “tỵ nạn” động đất.
Cơn động đất đã thật sự rung chuyển tại San Jose và các vùng phụ cận với 4.1 độ, và cũng có nguồn tin cho rằng động đất mạnh tới 4.4 độ.
Theo Sở Địa Chấn Hoa Kỳ thì tâm chấn nằm ở phía Đông Nam thành phố San Jose, cách San Jose 13 dặm. Bản tin khác cho biết là tâm chấn nằm trong khu Alumrock, trong hệ thống đường nứt (fault) Calaveras, cách tòa thị sãnh 11 dặm.
Cho đến giờ báo lên khuôn, chưa nghe thấy bất cứ thiệt hại nhân mạng hay tài sản nào được nói đến.
San Jose nằm trong vùng được xem là có nguy cơ động đất, vì nó bị kẹp giữa hai lằn nứt lớn là Andreas và Calaveras, cho nên chuyện động đất là khó tránh. May mắn là trong thời gian qua, chỉ có những cơn động đất nhỏ rung chuyển mà thôi. Dẫu sao thì sự đề phòng vẫn cần thiết.
Nguyễn Dương

Vụ công an VN tấn công ông Christian Marchant tiếp tục gây sôi nổi và Hoa Kỳ đang chờ phúc đáp của phía Việt Nam

Cali Today News – Chính phủ Hoa kỳ đã chính thức phản đối ‘với lời lẽ mạnh mẽ’ vụ một nhân viên của tòa Đại Sứ Mỹ ở Hà Nội đã bị công an VN tấn công khi đang tìm cách thăm viếng Linh Mục Nguyễn Văn Lý.

Trong công văn phản đối, Hoa Kỳ đã yêu cầu phía VN phải có lời giải thích vụ này. Ông Marchant đã bị ngăn cản không cho vào nhà thờ của Linh Mục Lý, sau đó bị dùng bạo lực trấn áp đưa lên xe.

Tòa Đại Sứ Mỹ nói rõ là ‘đây là một vụ nhân viên của họ bị tấn công khi thi hành nhiệm vụ chính thức của ông ta một cách bình thường’.

Đại sứ Hoa Kỳ Michael W. Michalak tại VN tuyên bố trong một cuộc họp báo: “Chính phủ Mỹ ở Washington và ở Hà Nội đã phản đối chính thức và mạnh mẽ, chúng tôi đang chở một phúc đáp chính thức của chính phủ VN”.

Mark Toner, một phát ngôn nhân của Bộ Ngoại Giao Mỹ, đã tuyên bố với các ký giả ở Washington là ‘ông Đại Sứ VN đã được các viên chức Mỹ mời lên gặp mặt vì chuyện rắc rối này’.

Ông Toner nói: “Chúng tôi đang chờ chính phủ VN cung cấp một lời giải thích về chuyện gì đã thật sự xảy ra”.

Ông Đại Sứ Michalak hối thúc chính phủ VN phải tuân thủ các nguyên tắc của Hiệp Ước Vienna về Ngoại Giao, kể cả bảo đảm quyền được bảo đảm an toàn của nhân viên ngoại giao đoàn.

Bà Nguyễn Phương Nga, phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao CSVN, nói “VN đang xem xét nội vụ” và nói thêm là “các đoàn ngoại giao cũng có trách nhiệm tuân thủ luật lệ của đất nước sở tại.”

Trường Giang (nguồn Sify News)

Danchimviet/

Mô hình nào cho Việt Nam và thế giới?

Kể từ khi Liên Sô và khối Đông Âu sụp đổ, cụm từ toàn cầu hóa – globalization – bắt đầu được nhiều người nói tới. Cường độ giao lưu giữa các quốc gia từ kinh tế chính trị, đến văn hóa xã hội ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Biên cương các quốc gia như gần lại nhau hơn. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là hệ thống mạng toàn cầu làm cho thế giới trở thành một ngôi làng nhỏ. Những gì xảy ra bên đây bờ Thái Bình Dương, trong nháy mắt, bên kia bờ cũng biết.

Những bức tường tre, tường sắt sụp đổ. Các bức tường lửa ngăn chặn sự tìm hiểu thông tin khắp nơi của con người cũng bị dập tắt. Tri thức được nâng cao và loài người nhờ vậy mà thông cảm, hiểu biết nhau hơn. Các chế độ độc tài ngày càng phải chùn bước mặc dù không muốn. Đây là cuộc hướng tha vận động, vươn tay đến với nhau trên căn bản hợp tác hữu nghị, chung sống hòa bình và giúp nhau tiến bộ.

Liên Sô và Đông Âu lật đổ chế độ cộng sản, chối từ sự vong thân, vong bản để quay về với dân tộc nhằm phục hồi truyền thống, văn hoá cổ truyền đã bị văn hóa nô dịch cộng sản đè bẹp. Khắp nơi, tất cả các quốc gia đều hòa vào trào lưu của nhân loại là dân chủ hóa đất nước. Đây là công cuộc hướng tâm vận động. Các chế độ độc tài và cộng sản còn lại đều tìm cách trì hoãn và ngăn cản tiến trình dân chủ của quần chúng để thủ lợi, nhưng khó có thể chống lại xu thế chung.

Những hiện tượng nói trên đặt ra cho mỗi dân tộc hai con đường sống mới mà nhà cách mạng Lý Đông A từ thập niên 40 của thế kỷ trước gọi là đường sống quốc dân của dân tộc và đường sống quốc tế của dân tộc (1), hay còn gọi là hướng tâm và hướng tha vận động. Hướng tâm là để trở về với những giá trị đặc thù mỗi dân tộc rồi xiển dương lên cho rực rỡ. Hướng tha là để tranh đua sôi nổi, hòa nhịp với các dân tộc khác, tạo ra một giá trị, một nền văn hóa chung cho nhân loại. Nó không chỉ xảy đến cho dân Việt mà là xu hướng của thế giới. Điều đó có nghĩa là mỗi quốc gia không còn có thể sống riêng rẽ, mà sự sống còn của mỗi dân tộc đều lệ thuộc vào nhau.

Đường sống quốc dân của dân tộc

Thế sự nhiễu nhương của Việt Nam trong thế kỷ vừa qua đều làm cho mỗi chúng ta phải xót xa, cay đắng và tủi nhục. Trong khi lân bang và thế giới miệt mài tiến lên thì Việt Nam trở thành điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh giữa tư bản và cộng sản. Với kế hoạch trăm năm trồng người bởi văn hóa ngoại lai khốc hại, con người dưới chế độ cộng sản bị vong thân và vong bản. Những cố gắng gìn vàng giữ ngọc cho văn hóa truyền thống không bị nhiễm độc bởi văn hóa nô dịch quá yếu ớt, còn bị chủ trương quốc tế tìm mọi cách khống chế và tiêu diệt khiến chúng ta không hội tụ được nội lực dân tộc để thoát khỏi cơn bão tàn phá kinh hoàng cộng sản.

Đất nước tan hoang. Văn hóa suy đồi. Lòng người rã rời.

Sự kiện đó thúc bách mỗi con dân Việt phải mau mau thức tỉnh, bấu víu nương nhau mà đứng lên thay vì tiếp tục chống phá lẫn nhau. Tình trạng phân ly, kiệt quệ thua kém của dân tộc còn đòi hỏi toàn thể quốc dân phải mau chóng góp phần rũ bỏ chủ nghĩa lỗi thời Mác Lê và quan hệ tình nghĩa anh em độc hại Việt-Trung dưới thể chế cộng sản. Mỗi người hãy vận dụng vị trí và hoàn cảnh thuận lợi của mình trong thế toàn dân vi binh để đẩy lùi chế độ độc tài đảng trị, thay thế bằng đa nguyên quốc dân trị.

Quốc dân trị nghĩa là thể chế chính trị phải được trao về cho toàn thể quốc dân định đoạt, trong đó mọi đảng phái, kể cả đảng cộng sản chỉ có thể có vai trò thích đáng nếu hành động phù hợp lòng dân và được quốc dân tín nhiệm. Quốc dân trị là rẽ rạch lại đường sống văn hóa từ cổ thời Hồng Bàng đang bị văn hóa nô dịch cộng sản phủ lấp. Quốc dân trị là dựa vào quốc dân chứ không sử dụng đảng cộng sản làm phương tiện dựa vào quốc tế cộng sản – đã bị toàn thể nhân loại vứt vào sọt rác khắp nơi và ngay chính trên quê hương đã sản sinh ra nó – để cướp chính quyền rồi vô ơn, ngồi xổm trên đầu trên cổ, thao túng quốc dân. Quốc dân trị là “quyền quốc dân, lực nhà nước” chứ không phải thâu tóm toàn bộ quyền lực về cho chính quyền chuyên chế độc tài. Quốc dân trị là phát huy nhân tính, giải trừ thú tính. Quốc dân trị là vận động kết hợp giữa tâm và vật, chứ không phải đời sống chỉ do vật chất hạ tầng quyết định thượng tầng tư tưởng tinh thần như Mác chủ trương. Quốc dân trị là thống nhất lòng người, là trên dưới một lòng, có họa cùng chia có vinh cùng hưởng chứ không phải có họa thì bắt dân chia mà vinh thì đảng hưởng trọn.

Tất cả những điều đó là công cuộc hướng tâm vận động, chuyển hóa tâm thức dân tộc để đi từ quốc tế cộng sản lừa bịp trở về với đời sống quốc dân, nối lại mạch sống ngàn đời cha ông đã bị đứt quãng bởi các trào lưu thực dân và cộng sản. Dân chủ phải đi theo hướng quốc dân và dân tộc này mới là dân chủ chân chính và toàn dân. Nếu không, chỉ là dân chủ hình thức và vì quyền lợi của thiểu số có tiền hoặc có thế lực. Đây là đường sống quốc dân của dân tộc mà Lý Đông A đã đề ra.

Đường sống quốc tế của dân tộc

Thế giới sau gần một thế kỷ chiến tranh khốc liệt mới bắt đầu nhận ra rằng cuộc tranh giành ngôi thứ bá chủ không phải là con đường nhân loại nhắm tới, mà phải hòa hợp, nương nhau cùng sống và giúp nhau tiến bộ mới là con đường đúng đắn. Đã có những ý kiến như của cựu Chủ tịch Liên Sô, ông Gobachev, là nhân loại phải tìm kiếm con đường thứ ba sau cộng sản và tư bản, hoặc phải thúc đẩy toàn cầu hóa không chỉ bằng kinh tế, mà còn bằng văn hóa để mọi quốc gia tôn trọng lẫn nhau và sinh hoạt bình đẳng, bất kể nước lớn hay nhỏ. Nói chung, nhân loại đang dò dẫm mong tìm ra một giải pháp hợp lý nhất.

Điều này cho thấy rằng các cuộc tranh thắng trước đây bằng quân sự và bây giờ là chiến tranh kinh tế có đem đến hòa bình cho nhân loại hay không? Chắc hẳn là không, nếu trong tương quan thương mại kinh tế, ai cũng muốn thủ lợi về mình và dành bất lợi cho đối tác theo kiểu mạnh được yếu thua một chiều, mà phải là sự hợp tác trong sáng, bình đẳng hai chiều. Muốn vậy, cả nhân loại phải vận động cùng nhau xây dựng một nền văn hóa chung, có sự đóng góp văn hóa đặc thù của mỗi dân tộc, và quốc gia nào cũng phải tôn trọng những giá trị nhân bản và nhân quyền phổ quát trên toàn thế giới.

Những hình thức tranh hùng xưng bá cổ xưa, kéo bè lập cánh chống đối tiêu diệt nhau của cuộc Chiến tranh Lạnh trước đây – trong đó có cả ý đồ của chính phủ Mỹ sử dụng CIA để lật đổ các chính quyền chống Mỹ hầu lập những tập đoàn thân Mỹ khắp nơi, hoặc ý chí ỷ mạnh hiếp yếu như trường hợp Trung Quốc hàng ngàn năm qua và hiện nay – đều bị nhân loại chỉ trích và chống đối. Tất nhiên sẽ còn những tranh chấp, chiến tranh cục bộ ở một số vùng, nhưng nói chung, xu hướng thế giới ngày nay là hợp tác trong hòa bình, liên phòng bảo vệ nhau để cùng tồn tại. Sự kiện Wikileaks gần đây tiết lộ những thông tin hậu trường chính trị càng khiến những ý đồ “phân ranh”, chia vùng ảnh hưởng thế giới giữa các nước lớn – như Hội nghị Yalta của các quốc gia thuộc phe Đồng minh thắng trận Thế chiến 2, hoặc ý đồ móc ngoặc với Mỹ chia đôi thiên hạ của Trung Quốc mới đây – phải kiêng dè nể sợ. Nó đòi hỏi cả nhân loại phải tìm ra mô hình cho cuộc chơi mới, không còn là tương quan lỗi thời mạnh được yếu thua trong quá khứ. Nó cũng đòi hỏi dân tộc ta tìm đường phát triển trong trào lưu chung của nhân lọai mà theo Lý Đông A, kể từ 1950 trở đi là thời kỳ phát triển nội tại ra cùng với quốc tế của dân tộc. Ông gọi đó là “quốc tế biên tế phát triển”.

Mô hình nào cho Việt Nam lẫn thế giới để vừa dân tộc lại vừa quốc tế như thế?

Mô hình cơ năng bản vị

Để thực hiện đường hướng phát triển cộng đồng dân tộc trong một cộng đồng nhân loại hài hòa như vậy, cách đây 60 năm, một thiên tài tư tưởng Việt là Lý Đông A đã đưa ra mô hình tổ chức xã hội từ quốc gia lên thế giới, mà ông gọi là “học thuyết bản vị” (2). Chúng tôi trình bày dưới đây sự hiểu biết riêng về học thuyết hết sức thích hợp với sự phát triển của thời đại toàn cầu hiện nay, vừa như một lời giới thiệu về học thuyết này, vừa mong được học hỏi thêm từ các vị cao kiến hơn.

Bản vị được xem là một cá nhân hay tập thể, với đầy đủ khả năng và chức năng sinh hoạt như một đơn vị độc lập, tự sinh tự hóa mà không cần đến ngoại lực, trong đó có những phần tử cấu tạo ra nó. Những phần tử cấu tạo kia chính là cơ năng thành phần cho bản vị chung. Bản vị này lại được cơ năng hoá để trở thành đơn vị lớn hơn, tạo thành một mạng lưới liên quan chặt chẽ và bổ túc cho nhau.

Mỗi gia đình là một bản vị độc lập, bao gồm cha mẹ và con cái. Trong kiến trúc kim tự tháp của văn hóa Hán và Tây phương trước kia, người cha phái nam ngồi trên đỉnh tháp có quyền lực gần như tuyệt đối, con cái phải nghe lời mà không được bàn cãi cho dù ông ta có sai trái. Người vợ phái nữ phải phục tòng phái nam: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Ở nhà phải nghe lời cha, lấy chồng phải nghe chồng và khi chồng mất phải theo ý con trai (trưởng) chứ không được quyết định những việc lớn trong gia đình. Nền văn hóa ấy ưu đãi phái nam và khinh rẻ phái nữ. Con trai được truyền những bí quyết nghề nghiệp buôn bán, con gái thì không. Trái lại, trong văn hóa Việt, con nào cũng là con, vẫn còn được truyền tụng qua các câu ca dao tục ngữ: Trăm trai không bằng một dái tai con gái, trăm gái không bằng một cái dái con trai. Phái nữ được dân Việt tôn trọng, khi về nhà chồng, xã hội còn trao gởi họ trách nhiệm nặng nề: gánh vác giang sơn nhà chồng. Với truyền thống chăm lo cho gia đình nên những khó khăn đều được các thành viên chia sẻ trách nhiệm, mọi người đều cố gắng góp phần cho sự thăng tiến chung. Hạnh phúc của mỗi người là hạnh phúc của gia đình và vinh quang của gia đình là niềm vinh dự của mỗi thành viên.

Sự sinh hoạt lấy gia đình làm bản vị trung tâm mà vẫn quan tâm và bảo vệ quyền lợi các thành viên cơ năng chính là hình ảnh gia đình hạch tâm của xã hội Việt trước kia. Khi các cơ năng đều thích tính đắc vị, thi hành hoàn hảo vị trí của mình thì bản vị sẽ vận hành xuông sẻ, thuận tình hợp lý tựa các điện tử vận động hài hòa trong một nguyên tử.

Từ mô hình gia đình hạch tâm (nucleus family) nói trên, các bản vị lớn hơn sinh hoạt theo cùng một mô thức để đạt đến xã hội hạch tâm.

Mỗi hộ là một cơ năng thành phần của bản vị phường. Ở một đơn vị cao hơn, phường được cơ năng hóa để trở thành cơ năng cho bản vị xã. Cùng một phương cách tổ chức như thế để tiến đến bản vị quốc gia. Học thuyết này không chỉ áp dụng cho quốc gia, mà còn được áp dụng trên bình diện quốc tế nhằm tạo lập một thế giới hòa bình an lạc.

Ngoài những đơn vị hành chánh, các cơ quan xã hội, bộ ngành đều được tổ chức như nhau, tạo thành một hệ thống network có liên quan chặt chẽ với nhau. Chính quyền trở thành bản vị trung tâm. Nhà nước điều hành và tạo cơ hội thuận lợi chứ không phải ngất ngưởng trên đỉnh kim tự tháp nắm quyền và ra lệnh cho mọi sinh hoạt của nhân dân dưới đáy. Những đơn vị phường xã thấp nhất là những chính quyền tự trị địa phương. Người dân trong các phường/ấp tự bầu bán và đưa ra kế hoạch hoạt động xung quanh bản vị trung tâm xã. Nhờ vậy, nhu cầu quần chúng ở ngay địa phương được quan tâm đúng mức. Cũng nhờ sự tự trị ở tầm mức tương đối nhỏ, bản vị xã hay một bộ trở nên sinh động và có thể tự điều chỉnh những sai trái tại chỗ, không làm bùng lên bức xúc liên quan đến cả xã hội, dễ đưa đến rối loạn trật tự công cộng và giảm thiểu những vụ kiện tụng tốn kém nếu có. Mỗi xã đều có các chương trình kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục… địa phương, trở thành cơ năng thành phần cho bản vị các bộ liên quan trên quy mô toàn quốc.

Sự tự điều chỉnh không chỉ ở các đơn vị hành chánh, các bộ ngành cũng có khả năng chỉnh đốn nội bộ, cho phép nhà nước dễ dàng điều hành quốc gia. Các cơ quan hành chánh và các bộ sinh hoạt hài hòa với nhau cả ngang lẫn dọc (mạng lưới) chung quanh bản vị trung tâm nhà nước, được chính nhân dân trực tiếp tổ chức  sẽ tạo hiệu quả cao và giới hạn sự trương phình chính phủ nặng nề như ta thấy ở các quốc gia hiện nay.

Mặt khác, sinh hoạt theo cơ chế hạch tâm thì quyền lực tập trung hay quyền lực nằm trên đỉnh kim tự tháp sẽ được nhà nước tản quyền về cho toàn dân, chính phủ đóng vai trò điều hợp các hoạt động xã hội chứ không phải là nơi xuất phát các mệnh lệnh lãnh đạo, hay biến thành bộ phận sản xuất nghị quyết buộc nhân dân phải thi hành. Liên hệ giữa nhân dân và nhà nước là liên hệ hai chiều, phân công và hợp tác với nhau trong công cuộc xây dựng đất nước chứ không còn là sự phân quyền, khiến cho nhà nước luôn có khuynh hướng lạm dụng danh nghĩa bầu cử hoặc ngay cả tiếm đoạt quyền lực để ngự trị trên đỉnh, cai trị toàn dân bên dưới.

Điển mẫu mới

Mô hình cơ năng bản vị được Lý Đông A khám phá và đề ra vào thập niên 1940 của thế kỷ trước, khi ông tập đại thành tư tưởng về chủ thuyết Duy Dân, ngày nay đang được khoa học soi sáng hơn. Trong tác phẩm Beloging to the Universe (Explorations on the Frontiers of Science and Spirituality) xuất bản năm 1991 (3), nơi phần dẫn nhập có tường thuật lại cuộc đàm thoại giữa nhà vật lý Fritjof Capra và nhà thần học David Steindl-Rast, nói về điển mẫu (paradigm) tư duy mới theo quan điểm khoa học. Họ đề ra năm tiêu chuẩn, trong đó hai tiêu chuẩn trình bày về vũ trụ quan (view of nature) và ba tiêu chuẩn đề cập đến khảo sát (qui trình) khoa học luận (epistemology). Các tiêu chuẩn rọi sáng bản vị học thuyết được trình bày tóm tắt như sau:

1. Sự chuyển hướng từ bộ phận sang tổng thể. Ở thời đại của Descartes, Newton và Bacon, theo điển mẫu cũ thì trong bất cứ hệ thống phức tạp nào, sự năng động của tổng thể được hiểu bằng đặc tính của cục bộ (chuyên biệt hóa và thiếu sự phối hợp với nhau). Với điển mẫu mới, các đặc tính của cục bộ (cơ năng) chỉ có thể hiểu được từ động lực của tổng thể (bản vị). Điều gọi là cục bộ chỉ là mẫu thức trong một mạng lưới các tương quan bất khả phân.

2. Sự chuyển hướng từ cấu trúc sang tiến trình. Ở điển mẫu cũ, người ta nhìn thực tại với các cấu trúc căn bản, có những lực và cơ chế tác động lẫn nhau tạo ra tiến trình. Trong điển mẫu mới, mỗi cấu trúc biểu thị cơ sở đặt nền tảng cho một tiến trình. Toàn thể mạng lưới các tương quan đều mang tính cách năng động nội tại (tự sinh, tự hóa và tự điều chỉnh theo ngôn ngữ Lý Đông A).

3. Sự chuyển hướng từ khối thiết định nền tảng sang mạng lưới. Quan niệm về khối thiết định nền tảng (basic building block) của phép ẩn dụ tri thức đã được triết học và khoa học Tây phương sử dụng hàng ngàn năm qua. Điển mẫu mới cho rằng mọi ẩn dụ được thay thế bằng mạng lưới. Mạng lưới ấy không phân biệt về đẳng cấp cao thấp, cũng không có khái niệm nào là nền tảng. Mạng lưới là một hệ thống sinh động mở, cấu trúc là hệ thống xơ cứng khép kín. Tính trọng yếu của mạng lưới là sự kiên định không thay đổi (consistency) của mối tương quan liên lập giữa các cơ năng thành phần, dù thành phần ấy có thay hình đổi dạng.

Mô hình cơ năng bản vị – với chính trị và tổ chức xã hội là chính phủ trao quyền về cho quốc dân để người dân có thực quyền – không chỉ nằm trên sách vở hay được giới trí thức nghiên cứu trong trường ốc, mà đã được các quốc gia tiên tiến bắt đầu ứng dụng, tuy rằng mới chỉ ở quy mô nhỏ.

Bên Anh, chính phủ cho phép phụ huynh học sinh điều hành trường học và để cử tri chọn lấy các nhân viên công lực, thay vì được tuyển lựa bởi chính quyền. Họ đưa ra các từ ngữ và ý niệm mới như social innovation (canh tân xã hội), social entreprenuer (nhà thầu xã hội), tức những người tìm ra phương thức cải tổ đối với các vấn nạn xã hội, chẳng hạn, đề ra mô hình thương mại nhằm giảm thiểu sự nghèo đói (4). Hai thập niên qua, chính phủ ký hợp đồng với các tập đoàn kinh doanh lớn hay các hội thiện nguyện để lo các dịch vụ xã hội. Nhưng nay, họ thay đổi phương cách, đề ra sự hợp tác giữa nhà nước và tư nhân, giảm thiểu chi phí và tạo cơ hội cho nhân dân phục vụ nhân dân.

Ở Mỹ, hệ thống charterfundamental schools ngày càng phát triển. Tuy rằng vẫn phải theo tiêu chuẩn giáo dục của tiểu bang, nhưng nhà trường được quyền quyết định chương trình và phương pháp đào tạo học trò. Họ đề ra sự hợp tác chặt chẽ giữa học sinh, học đường và phụ huynh. Phụ huynh phải ký “hợp đồng học tập” với nhà trường, bảo đảm rằng con em phải đạt tối thiểu một thang điểm nào đó do nhà trường đề ra. Nếu không đạt được tiêu chuẩn, học sinh sẽ bị từ chối và phải học ở hệ thống công lập bình thường. Ngược lại, nhà trường sẽ bị tước đi danh hiệu charter nếu không cung ứng cho học sinh một nền giáo dục phẩm chất cao. Nó đòi hỏi sự cố gắng ở cả hai phía. Tính chất quan trọng của tự quản học đường có sự hợp tác giữa phụ huynh và trường học được ông Steven Holguin, giám đốc khu vực của hệ thống charter ở quận San Bernadino, California phát biểu, “charter schools là một phần rất quan trọng của việc cải tổ giáo dục tương lai” (5). Trong hệ thống này, có trường chú trọng tới sự chuẩn bị cho học sinh lên đại học ở những năm cuối trung học; có trường quan tâm đến giáo dục song ngữ; có trường lại khai thác kỹ năng lãnh đạo. Khi được trao thêm quyền tự quản, lãnh đạo học đường thấy rõ nhu cầu của cha mẹ và học trò mà đề ra phương pháp giáo dục hợp lý, tạo môi trường học tập tốt nhất cho học sinh. Ý thức được tầm giáo dục quan trọng của hệ thống, rất nhiều em muốn theo học đành phải nằm trong danh sách chờ đợi cho tới khi được nhận vào.

Đây là hình thức “tản quyền” dần cho người dân để biến thành phân công và hợp tác giữa bộ giáo dục và giới lãnh đạo học đường tại địa phương, sinh hoạt theo mô hình hạch tâm cơ năng-bản vị.

Lời kết

Giai đoạn hô hào nghĩa vụ quốc tế nhằm tranh quyền đoạt lợi đầy máu và nước mắt của thế kỷ 20 đã qua đi. Trở về xiển dương đặc thù truyền thống nhằm gia tăng nội lực dân tộc, dân chủ hóa đất nước và đóng góp phần mình vào nền hòa bình, thịnh vượng chung đang là xu thế của toàn thể nhân loại. Nỗ lực nối lại mạch sống bị đứt quãng bởi những trận cuồng phong thực dân và cộng sản, chúng ta nhận ra rằng văn hóa và nếp sống Việt rất phù hợp với mô hình sinh hoạt thế giới trong tương lai. Dân tộc chúng ta có đón đầu, bắt kịp trào lưu sắp tới thì mới có cơ may ngẩng mặt với đời. Nó đòi hỏi một nỗ lực chung, kể cả những người cộng sản. Những tiếng nói ngày càng đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là các đảng viên cao cấp đang đòi đảng cs phải xét lại vai trò của họ trong dòng sống dân tộc, cho chúng ta niềm hy vọng vào tương lai tươi sáng của đất nước. Hãy siết chặt tay nhau đẩy tiến trình dân chủ hóa đất nước mau chóng thành công.

Trên dưới 50 năm nay, viễn kiến về sự hình thành thế giới theo bản vị học thuyết của Lý Đông A dần dần hiện rõ hơn. Chúng ta đã chứng kiến các quốc gia đối đầu nhau trong thế kỷ vừa qua tiến dần đến những cố gắng thành lập các khối vùng dựa trên phân bố địa lý và văn hóa tương đồng, có thể được coi là các tập đoàn an toàn, liên phòng bảo vệ và thúc đẩy nhau cùng tiến bộ. Khi sự vận động kết hợp các khối này đặt căn bản trên bình đẳng và hợp tác trong sáng giữa các cơ năng thành viên thì càng ngày sự sinh hoạt hỗ tương giữa các nước càng vững chắc hơn, tựa như các khối Liên Hiệp Âu Châu, khối Bắc Mỹ hay khối Đông Nam Á (ASEAN) đang tự hoàn chỉnh; các khối khác cũng đang dần thành lập. Ông còn đi xa hơn, đặt giả thuyết các nước Đông Nam Á sẽ hình thành một liên bang Đại Nam Hải.

Ngược lại, kết hợp chỉ để thủ lợi cho riêng mình hoặc dựa vào sự kết-hợp-vùng giả trá mang mộng ước bá đạo đều bị tan rã. Sự tự vỡ của khối cộng sản quốc tế là một điển hình; sự tan hàng của khối các nước thứ ba do Trung Cộng chủ trương trước kia là một thí dụ khác.

Như vậy, để giải quyết xung đột biển Đông Nam Á lẫn Bắc Á và các cuộc đối đầu trên thế giới hiện nay, các cơ năng thành viên phải tôn trọng lẫn nhau trên căn bản hợp tác bình đẳng cùng có lợi, không thể có sự nổi trội đàn áp của bá quyền nước lớn. Bản vị không những phải tôn trọng tính độc lập, mà còn phải bảo vệ sự hiện hữu của mỗi cơ năng thành viên. Nếu không có cơ năng hoặc cơ năng èo uột yếu kém, không thể hình thành một bản vị vững chắc. Các cơ năng kết-hợp-vùng này sẽ sinh hoạt hài hòa với nhau, đóng góp văn hóa đặc thù của mỗi thành viên tạo nên bản vị nhân loại. Nó không cho phép cổ súy dân tộc cực đoan hay dân tộc ưu việt, mạnh được yếu thua trong quá khứ. Những nỗ lực lũng đoạn sự kết hợp chân tình sẽ bị chống đối và khó có cơ thành tựu, vì trái chiều với trào lưu chung.

Đây chính là hình ảnh của thế giới đại đồng tương lai. Dân tộc Việt đã kịp chuẩn bị để hòa vào nhịp sống của nhân loại hay chưa?

© Tạ Dzu

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: