Tin Ngoài Nước ngày 02/01/2011

Tín Châu tổng hợp

Khi cộng đồng Facebook nổi giận

2010-01-01
Suốt ngày hôm qua (30/12), cộng đồng mạng Facebook Việt Nam xôn xao vì căn nhà của họ bỗng nhiên không vào được, mặc dù đã sử dụng các biện pháp đổi DNS, vượt tường lửa.

Nhìn lại tình hình bán đảo Triều Tiên

2011-01-01
Một trong những sự kiện đáng chú ý trên thế giới trong năm 2010 là tình hình dầu sôi lửa bỏng ở bán đảo Triều Tiên.

Wikileaks: Ranh giới giữa Bảo mật và Minh bạch

2011-01-01
Việc Wikileaks phát tán hơn 250.000 điện văn ngoại giao hôm 28/11/2010 được xem là vụ rò rỉ lớn nhất những thông tin được phân loại bảo mật trong lịch sử.

Vedan vẫn chuyển tiền dù thêm nhiều khiếu kiện

2011-01-01
Những ngày cuối năm dương lịch vụ Vedan lại choán chỗ nhiều trang báo điện tử.

Tin Việt Nam

Tin Quốc tế

chủ nhật, 2 tháng 1, 2011

Tân tổng thống Brazil tuyên thệ nhậm chức

Người tiền nhiệm của bà là ông Luiz Inacio Lula da Silva, người đã rời chức vụ sau hai nhiệm kỳ cầm quyền và được cho là có uy tín nhất trong các tổng thống Brazil từ trước tới nay.
Sau khi tuyên thệ, bà Rousseff có bài diễn văn trong đó bà hứa hẹn sẽ bảo vệ cho những người yếu thế nhất ở Brazil và lãnh đạo vì lợi ích toàn thể xã hội.
Bà cũng cam kết sẽ tiếp tục công việc của ông Lula, người mà theo bà đã thay đổi cách thức lãnh đạo ở Brazil.
Kinh tế Brazil đã tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây, nhưng trong xã hội nước này vẫn còn tồn tại nhiều bất công.
Bà Rousseff được bổ nhiệm làm bộ trưởng năng lượng dưới thời Tổng thống Lula hồi năm 2003 và bà cũng làm chánh văn phòng chính phủ từ 2005 tới 2010.
Bà trúng cử tổng thống hồi tháng Mười, thắng đối thủ Jose Serra với tỷ số 56% trên 44% trong cuộc bỏ phiếu lần hai.
Người ta cho rằng bà Rousseff chủ trương tăng cường vai trò của nhà nước trong các lĩnh vực chiến lược như ngân hàng, dầu lửa và năng lượng.
Lễ nhậm chức của bà Rousseff diễn ra tại tòa nhà Quốc hội Brazil và bắt đầu bằng chuyến diễu hành bằng xe Rolls Royce qua thủ đô Brasilia.
Sau khi đọc lời tuyên thệ, bà Rousseff bắt đầu diễn văn nhậm chức bằng nhận xét rằng đây là lần đầu tiên trong lịch sử vai trò tổng thống Brazil được trao cho phụ nữ.
Bà nói trong tiếng reo hò vang dội: “Tôi biết ý nghĩa lịch sử của quyết định này”.
“Ngày hôm nay, toàn thể phụ nữ Brazil có thể cảm thấy sung sướng và tự hào.”

Kỷ nguyên mới

Bà Rousseff tuyên bố đây là “bắt đầu một kỷ nguyên mới” của Brazil, và hứa sẽ bảo vệ cho những người yếu thế nhất xã hội.
Bà cũng hứa sẽ tiếp tục công việc của người tiền nhiệm: “Sự đền đáp tốt đẹp nhất mà tôi có thể dành cho ông ấy là tiếp tục các tiến bộ mà chính phủ trước đã đạt được và đầu tư vào sức mạnh của toàn dân.”
Bà Rousseff thay Tổng thống Lula, người rất được lòng dân
“Đó chính là bài học mà Tổng thống Lula đã mang lại cho tất cả chúng ta.”
Bà Rousseff nhấn mạnh về thành quả của chính phủ Lula trong việc xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển kinh tế trong tám năm qua.
Bà cũng nói đến kế hoạch cải cách thuế khóa của mình, cũng như các chương trình bảo vệ môi trường, cải thiện y tế, phát triển các địa phương và bảo hộ nền kinh tế trước sự lũng đoạn của bên ngoài.
Sau khi phát biểu xong, bà Rousseff đã tới dinh tổng thống, nơi ông Lula trao cho bà dải băng của tổng thống hai màu xanh lá cây và vàng.
Bà Rousseff, cựu chiến binh Marxist từng bị cầm tù ba năm hồi đầu những năm 1970, cũng hứa sẽ bảo vệ quyền tự do ngôn luận và tôn giáo, đồng thời tuân thủ hiến pháp.
Kinh tế Brazil ước tính tăng trưởng 8% trong năm 2010. Tuy nhiên đồng real nước này đã tăng giá quá cao gây ảnh hưởng cho xuất khẩu.
Trong hai nhiệm kỳ tổng thống của ông Lula, 30 triệu người đã thoát khỏi đói nghèo. Và đó cũng là lý do ông được người dân yêu mến nhất.

VN quyết kiềm chế lạm phát năm 2011

Chính phủ Việt Nam đặt ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát làm hai mục tiêu chính trong năm 2011.
Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng nói tại cuộc họp báo cuối năm của Văn phòng Chính phủ hôm 31/12/2010 rằng “ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát sẽ là mục tiêu nhất quán cho cả năm” tới.
Cuối tháng 12 vừa qua, Tổng cục Thống kê Việt Nam chính thức thông báo tỷ lệ tăng chỉ số giá tiêu dùng của năm 2010 là 11,75%, cao hơn chỉ tiêu do Quốc hội đề ra năm gần 5%.
Lạm phát hai chữ số bị cảnh báo là đe dọa lớn cho sức khỏe nền kinh tế.
Tuy nhiên, theo ông phó thủ tướng, con số 11,75% là do cách tính của cơ quan thống kê. Ông Hùng được dẫn lời nói tại cuộc họp báo rằng “phương pháp tính tăng giá của các nước không tính giá dầu, giá lương thực và nếu ta thực hiện theo cách này, chỉ số giá tiêu dùng của cả năm chỉ tăng 7,5%, không phải tăng 11,75% như cách tính hiện nay”.
Ông Nguyễn Sinh Hùng cũng khằng định trong năm 2010, Việt Nam đã đạt được mục tiêu phục hồi kinh tế.
Tỷ lệ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm vừa qua là 6,78%, đứng thứ hai trong khu vực, sau Trung Quốc.
Để thực hiện mục tiêu đề ra cho năm tới, ông Hùng nói Chính phủ sẽ tăng cường quản lý chặt chi tiêu công và các khoản chi ngân sách.
Nhà nước sẽ tiếp tục cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là “siết chặt đội ngũ quản lý doanh nghiệp nhà nước”.
Năm 2010, mặc dù nguồn đầu tư nước ngoài, đầu tư chứng khoán và kiều hối đều tăng, nhưng cán cân thanh toán vẫn thâm hụt khoảng 4 tỷ đôla.

Điều chỉnh chuẩn nghèo

Ông phó thủ tướng cũng cho biết sẽ tiếp tục thực hiện nâng giá một số mặt hàng thiết yếu, như điện, lên mức giá thị trường, nhưng qua một lộ trình từ từ.
Về mục tiêu giảm nghèo, ông nói chuẩn nghèo từ năm nay sẽ được tăng lên là dưới 500.000 tháng đồng/tháng cho người sống ở thành thị và dưới 400.000 ngàn/tháng cho người sống ở nông thôn.
Mức hiện hành là dưới 200.000 đồng/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng ở thành thị.
Như vậy, tỷ lệ người nghèo ở Việt Nam sẽ lên khoảng 16%, từ con số 9,5% hiện thời.
Vừa qua, Quốc hội Việt Nam cũng đề ra một số mục tiêu phát triển cho năm 2011, trong đó có giảm tỷ lệ hộ nghèo 2% theo chuẩn mới.
Theo Nghị quyết 51/2010/QH12, Việt Nam cần phấn đấu đạt tỷ lệ tăng trưởng 7%-7,5% và tỷ lệ lạm phát không quá 7%.
Hai miền Nam – Bắc Triều Tiên kêu gọi hòa bình
. Bắc Triều Tiên đã lên tiếng kêu gọi cải thiện quan hệ với miền Nam trong năm mới, trong khi Tổng thống Nam Triều Tiên tuyên bố, ông tự tin rằng một nền hòa bình có thể được thiết lập trên bán đảo Triều Tiên.

Trong một bài xã luận nhân dịp năm mới được truyền thông nhà nước đăng tải, quốc gia cộng sản Bắc Triều Tiên nói rằng các căng thẳng với đất nước dân chủ Nam Triều Tiên cần phải được giải tỏa ‘sớm nhất có thể’. Nhưng bài này cũng đồng thời cảnh báo rằng một cuộc chiến trên bán đảo Triều Tiên ‘sẽ không mang lại lợi ích gì ngoài một cuộc thảm sát hạt nhân’.

Bài xã luận cũng nói rằng các quyền lợi chung của hai miền Triều Tiên cần phải được thúc đẩy ‘trên hết mọi thứ khác’, đồng thời cho rằng ‘nguy cơ chiến tranh cần phải bị loại bỏ’ khỏi bán đảo.

Trong khi đó, tại Nam Triều Tiên, trong bài phát biểu nhân năm mới và được truyền hình, Tổng thống Lee Myung-bak cho biết ông ‘tự tin’ rằng sẽ có hòa bình trên bán đảo và rằng Nam Triều Tiên sẽ ‘tiếp tục truy trì phát triển kinh tế’.

Các thông điệp năm mới mang tính hòa giải trái ngược hoàn toàn với các đe dọa quân sự gần đây cũng như các hành động giống như chiến tranh của hai bên. Hồi tháng 11,
Bình Nhưỡng tiến hành  pháo kích hòn đảo Yeonpyeong của miền Nam, làm bốn người thiệt mạng. Đáp lại, Nam Triều Tiên đã tiến hành các cuộc diễn tập bắn đạn thật trên hòn đảo này.

Khu trụ sở Quốc hội Mỹ sơ tán vì một phi cơ bay lạc

Một máy bay phản lực bị lạc khiến nhà chức trách phải ra lệnh sơ tán tại khu Trụ sở Quốc hội Mỹ và những tòa cao ốc trong vùng kế cận, nhưng tình huống này đã được giải quyết mau chóng.

Thẩm Quyền Hàng Không Liên Bang cho biết việc mất liên lạc vô tuyến với chiếc máy bay chở khách của Hãng Hàng Không Piedmont vào lúc xế chiều thứ Bảy khi máy bay này bay vào vùng trời bị hạn chế chung quanh trụ sở Quốc Hội Mỹ.

Cảnh sát Trụ Sở Quốc Hội đã ra lệnh cho các nhân viên chính phủ sơ tán khỏi các văn phòng khi quân đội triển khai các phi cơ phản lực để bay bao quanh chiếc máy bay vừa kể. Nhưng cuối cùng thì nhận ra là một báo động sai.

Thẩm Quyền Hàng Không Liên Bang nói rằng đã tái lập được liên lạc với phi công và chiếc máy bay vừa kể đã hạ cánh an toàn xuống phi trường Reagan National Airport trong vùng kế cận là điểm tới của chuyến bay này.

Hãng tin Associated Press đưa tin rằng viên phi công đã nói với các giới chức là ông vô ý vặn máy truyền tin vào một tần số không đúng.

Chuyến bay này đã cất cánh từ Hilton Head, tiểu bang South Carolina.

Có ít nhân viên liên bang tại các văn phòng của họ trong khi xảy ra sự cố vừa kể vào vào lúc xế chiều ngày đầu năm mới.

Cải Cách Tại Trung Quốc
Nguyễn Xuân Nghĩa &Việt Long RFA
…không cải cách thì xã hội vỡ đôi, cải cách không khéo thì đảng vỡ đôi…
Tiếp tục loạt tổng kết về kinh tế Trung Quốc mà một số lãnh đạo Việt Nam coi như mẫu mực, mục Diễn đàn Kinh tế đài RFA kỳ này sẽ nói đến những thử thách của một quốc gia rộng lớn và có quá nhiều mâu thuẫn bên trong. Phần trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa sẽ do Việt Long thực hiện sau đây hầu quý thính giả.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Qua hai chương trình liên tục, diễn đàn này đã đề cập tới các số liệu thống kê để ta đánh giá chính xác hơn trực trạng Trung Quốc và nói về những cái nhất của Trung Quốc, ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Trong chương trình hôm nay, xin đề nghị ông phân tách tiếp về những vấn đề cơ bản của xứ này trước viễn ảnh của một thay đổi sau Đại hội Khoá 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ triệu tập trong vòng 20 tháng nữa.
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tôi xin bắt đầu từ địa dư hình thể, là điều kiện khách quan trói buộc lãnh đạo của mọi quốc gia. Trung Quốc là một nước rất lớn, với diện tích tới gần 10 triệu cây số vuông mà thật ra lại không được thiên nhiên ưu đãi. Địa dư xứ này gồm ba khu vực khác biệt mà từ mấy ngàn năm nay ý chí của con người chưa thay đổi được. Từ hướng Đông vào là khu vực trù phú gần duyên hải, nơi có độ ẩm đủ cao cho canh nông nhưng không rộng lớn, với diện tích canh tác bình quân một đầu người chỉ bằng một phần ba của trung bình thế giới thôi. Đây là nơi tập trung Hán tộc và có mật độ dân số cao nhất. Kế tiếp là khu vực tạm gọi là nội địa, gồm các tỉnh bị khóa bên trong, khó thông thương ra ngoài vì toàn sa mạc hay thảo nguyên, thiếu sông ngòi và ít thuận lợi cho giao thông, lại là nơi tập trung các sắc tộc thiểu số. Khu vực thứ ba là biên trấn miền Tây và miền Bắc, còn hoang vu hiểm trở hơn, mà cũng là nơi xuất phát các đợt xâm lăng của dị tộc như Kim, Liêu, Mông, Mãn, đã nhiều lần vào làm chủ vùng Trung nguyên của Hán tộc ở miền Đông.
Việt Long: Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lãnh đạo quốc gia này được 60 năm, họ thay đổi được những khác biệt thiên nhiên đó như thế nào?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Họ không thay đổi được gì nhiều, trừ có một việc là đưa người Hán vào sinh sống đông hơn tại khu vực xưa nay thuộc các sắc tộc khác. Thực tế thì Trung Quốc vẫn có ba nền kinh tế khác biệt về trình độ và lợi tức, đấy là một thách đố sinh tử cho lãnh đạo.
– Khu vực miền Đông gồm 500 triệu dân sống khá chật chội mà cung cấp cỡ 64% sản lượng toàn quốc từ 11 tỉnh và thành phố. Khu vực nội địa rộng lớn hơn nhiều, có 450 triệu dân thì chỉ sản xuất chừng 25% sản lượng cả nước từ tám tỉnh. Sau cùng, khu vực biên trấn bao quanh có 400 triệu dân sống trên một vùng hoang vu bát ngát và sản xuất ra gần 20% sản lượng. Hố cách biệt về lợi tức người dân giữa từng khu vực là vấn đề nghiêm trọng, trình độ phát triển và đô thị hoá khác nhau quá xa là một vấn đề khác. Sự khác biệt này còn lớn hơn những gì có thể thấy giữa các tiểu bang nghèo nhất và giàu nhất Hoa Kỳ hay các nước giàu nghèo nhất Âu châu từ Bắc xuống Nam, từ Tây qua Đông. Thực tế thì Trung Quốc chỉ là một hải đảo trù phú và chật chội ở miền Đông, được vây quanh bằng biển Thái bình và sa mạc bát ngát và núi non hiểm trở.
– Vì đặc tính đó, từ ngàn xưa, lãnh tụ nào lên cầm quyền cũng phải làm chủ được miền Đông và ngăn ngừa động loạn từ khu vực nội địa hoặc ngoại xâm từ các vùng biên trấn. Nỗi lo sợ truyền thống đó khiến họ xây Vạn lý Trường thành rất sớm, từ thời Chiến quốc và đưa quân lập vùng trái độn quân sự tại khu vực biên trấn. Mao Trạch Đông có thắng năm 1949 thì cũng nhờ cuộc Vạn lý Trường chinh để vét nông dân đói rách từ khu vực nội địa đi làm cách mạng và vừa chiến thắng là cướp lấy Tân Cương, Tây Tạng, để lập ra vùng trái độn. Mối lo của lãnh đạo đời nay là thành phần cùng khốn bên trong sẽ túa ra vùng duyên hải kiếm việc, hoặc gây động loạn xã hội.
Việt Long: Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nắm toàn quyền từ sáu chục năm nay mà chưa thể cải sửa được cái thực tế khách quan và khắt khe đó hay sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Từ 1949, 30 năm đầu là thời hoang tưởng của Mao với ý chí tập trung quyền lực trên một chế độ kinh tế tự cung tự cấp của địa phương vì vậy xứ này mới bị khủng hoảng kinh tế rồi khủng hoảng chính trị. Ba mươi năm sau, là từ khi Đặng Tiểu Bình cải cách thì miền Đông được mở ra ngoài tìm lực đẩy qua giao thương buôn bán với thế giới. Thế hệ Giang Trạch Dân và Chu Dung Cơ có thấy ra vấn đề nên mươi năm trước đã phát động kế hoạch “Tây tiến” nhằm đẩy mạnh đầu tư vào các tỉnh miền Tây bên trong mà không có kết quả. Từ khi lên cầm quyền năm 2003, thế hệ lãnh đạo thứ tư như Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo cũng muốn cải sửa và tái phân lợi tức từ khu vực trù phú cho các vùng lạc hậu mà không thành vì thực tế là bị cưỡng chống bên trong, rồi lại bị hiệu ứng của vụ Tổng suy trầm 2008-2009 nên họ đành trao vấn đề cho thế hệ nối tiếp sau Đại hội 18 này.
Việt Long: Ông nói đến những nỗ lực cải cách mà bị cưỡng chống từ bên trong. Chuyện ấy xảy ra như thế nào?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Lãnh đạo nào lên thì cũng nghĩ rằng ta sẽ thay đổi bộ mặt thế giới hay quốc gia mà thật ra vẫn bị câu thúc bởi thực tế. Trên một xứ sở bát ngát như vậy, vấn đề của Trung Quốc là dung hòa quyền lợi quá khác biệt giữa các địa phương. Hoa Kỳ cũng gặp vấn đề tương tự nên mới bị Nội chiến vào năm 1861 và hình thành chế độ liên bang theo nguyên tắc dân chủ để trung ương, là chính quyền liên bang, giữ trách nhiệm thống nhất mà vẫn bảo vệ được quyền lợi khác biệt của các tiểu bang. Trung Quốc không theo ngả đó và vẫn gặp bài toán đã đặt ra từ ngàn xưa là trung ương phải tranh đua quyền lực với các địa phương. Đảng Cộng sản độc quyền không thay đổi được sự thể mà còn làm vấn đề thêm trầm trọng từ 30 năm nay vì chiến lược phát triển hướng ngoại là lấy xuất khẩu làm đầu máy tăng trưởng và lệ thuộc vào thế giới.
– Hậu quả là các tỉnh duyên hải phát triển mạnh, tiến sâu vào thế kỷ 21 làm thiên hạ khâm phục mà các tỉnh bên trong vẫn bị tụt hậu, ngày một xa hơn. Lãnh đạo Bắc Kinh thấy ra điều ấy và rất sợ bất mãn sẽ gây động loạn từ bên trong ra nên họ muốn tập trung quyền lực vào trung ương để phân bố lại phương tiện phát triển cho đồng đều. Chủ trương đó hàm ý đổi chiến lược để giảm sự lệ thuộc vào xuất khẩu, kể cả nâng tỷ giá đồng bạc cho dân được hưởng, chấp nhận đà tăng trưởng chậm hơn mà có phẩm chất hơn và tái phân lợi tức qua chính sách thuế khóa cho các tỉnh nội địa thêm cơ hội thăng tiến và dân cư túa ra ngoài kiếm việc thì có thêm phúc lợi nhờ cải tổ chế độ hộ khẩu.
– Nhưng chủ trương đó lại bị cưỡng chống và ngấm ngầm phá hoại vì phạm vào quyền lợi của các đảng bộ địa phương xưa nay làm giàu nhờ chiến lược hướng ngoại và nhất là đụng vào một lý luận rất hấp dẫn là phải giương danh Hán tộc và bành trướng thế lực Trung Quốc ra bên ngoài.
Vì vậy, từ năm năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh cứ dập dình giữa hai ngả khép mở, nạn Suy trầm Toàn cầu còn khiến họ mất thêm hai năm dồn sức vào tăng trưởng nhờ tăng chi và tín dụng, rồi thổi lên nguy cơ bong bóng đầu tư và lạm phát, là chuyện hôm nay. Việc trì hoãn đó khiến vấn đề bên trong càng trầm trọng vì tiếp tục tích lũy những mâu thuẫn khó hàn gắn và có thể bùng nổ vì bất cứ một biến động kinh tế nào.
Việt Long: Bây giờ, ta bước qua chuyện tương lai. Trung Quốc đang chuẩn bị Đại hội 18, sẽ có lãnh đạo mới sau năm 2012. Thành phần này có thấy ra việc đó và làm được gì không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Ta khó biết được mọi chi tiết nhưng có thể suy ra vài điểm sau đây.
– Đặng Tiểu Bình trao quyền cho Giang Trạch Dân nhưng chọn lựa và cất nhắc người kế nhiệm Giang Trạch Dân là Hồ Cẩm Đào. Giang Trạch Dân trao quyền cho Hồ Cẩm Đào và cũng cất nhắc người sẽ kế vị Hồ Cẩm Đào là Tập Cận Bình, thuộc thành phần ưu tú, con ông cháu cha – gọi là “Thái tử đảng” – và từng là bí thư tại khu vực hướng ngoại như Phúc Kiến, Chiết Giang và Thượng Hải. Chủ tịch mới vì vậy có thể theo khuynh hướng tiếp tục phát triển ra ngoài, như Đặng Tiểu Bình hay Giang Trạch Dân.
– Ngược lại, đã từng phục vụ các tỉnh nghèo bên trong với thế lực và vây cánh được xây dựng từ Đoàn Thanh niên Cộng sản, Hồ Cẩm Đào thuộc về “Đoàn phái” và có tinh thần “đại chúng” là quan tâm tới quần chúng bần hàn nên muốn tập trung quyền lực vào trung ương và tái phân lợi tức cho các địa phương lạc hậu. Người có thể làm Thủ tướng là Lý Khắc Cường cũng có chung những đặc tính là “Đoàn phái” và “đại chúng” như Hồ Cẩm Đào.
Việt Long: Như vậy, thế hệ lãnh đạo mới vẫn lại theo những tư tưởng cũ hay sao?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Nhiều phần thì lớp lãnh đạo mới vẫn ở trong cái thế cài răng lược giữa hai xu hướng. Thành phần ưu tú khá giả thì tiếp tục đòi bung ra ngoài vì quyền lợi cũng có mà vì muốn phát huy thế lực Trung Quốc cũng có. Thành phần gọi là bình dân hơn thì đòi tăng cường vai trò trung ương để gìn giữ ổn định xã hội bên trong và duy trì bản sắc của Trung Quốc. Cả hai đều có những lý luận hấp dẫn và tác động xuống quần chúng qua truyền thông nhà nước.
– Quanh họ là các tân ủy viên trong Thường vụ bộ Chính trị thì cũng có sự phân bố tương tự. Bên Tập Cận Bình có Bạc Hy Lai, Vương Kỳ Sơn, Trương Đức Giang hay Dư Chính Thanh, v.v… Phía Lý Khắc Cường thì có Lý Nguyên Triều, bà Lưu Duyên Đông, Trương Bảo Thuận hay Lưu Kỳ Bảo, v.v… Xuyên qua hiện tượng này còn có sự kiện là tầng lớp lãnh đạo mới đều sinh sau cách mạng, đã trải qua sự điên cuồng của cuộc Cách mạng Văn hoá và từng phục vụ tại nhiều địa phương khác nhau nên ít chủ quan và sẵn sàng thoả hiệp. Chính vì vậy mà càng khó có quyết định chuyển hướng táo bạo và làm gì thì cũng tìm sự đồng thuận. Yếu tố ổn định ấy có mặt trái là quán tính, duy trì hiện trạng đằng sau khẩu hiệu cách mạng.
– Cần nói thêm rằng quân đội cũng là một thế lực đáng kể, không về kinh doanh kinh tài như xưa nhưng về an ninh và đối ngoại. Thành phần này muốn nâng cao khả năng bảo vệ quyền lợi quốc gia mà thực tế là bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc với quan niệm vùng trái độn cố hữu phải mở rộng tới biển xanh. Trong cuộc tranh luận về hai hướng khép mở, tất nhiên họ ngả theo xu hướng mở rộng ra ngoài. Chìm sâu bên dưới là tinh thần quốc gia dân tộc, là chủ nghĩa Đại Hán hiện đại hoá bằng phương pháp cộng sản.
Việt Long: Như vậy, sau 30 năm mở cửa rồi cần chuyển hướng để tìm ra thế quân bằng bên trong, việc cải cách đó có hy vọng hiện thực không?
Nguyễn Xuân Nghĩa: – Tôi thiển nghĩ Trung Quốc có hai yêu cầu cải cách chứ không phải một.
– Thứ nhất, sau 30 năm hoang tưởng và 30 năm mở cửa, xứ này phải tìm chiến lược phát triển cân đối hơn để san bằng mâu thuẫn bên trong, tức là nâng cao khả năng tiêu thụ nội địa và cho dân được hưởng thành quả lao động. Nhưng sự chuyển hướng đó có thể làm nhiều doanh nghiệp nhà nước và đảng viên bị thiệt hại. Nếu không cải cách thì xã hội vỡ đôi, nếu cải cách không khéo thì đảng vỡ đôi và có thể bị loạn sứ quân như đã từng thấy trong lịch sử.
– Thứ hai là phải cải cách về chính trị, là một đòi hỏi còn sinh tử hơn mà cũng khó thực hiện hơn. Trung Quốc mới chỉ có sinh hoạt gọi là dân chủ trong bộ Chính trị, bên dưới thì vẫn là ách độc tài và nạn bè phái kiểu “tư bản thân tộc”, nỗ lực dân chủ hóa từ dưới lên đều chưa có kết quả. Việc dung hoà quyền lợi giữa các khu vực không thể thực hiện được nếu không có một thể chế dân chủ liên bang để thoát khỏi cái nghiệp hợp tan ngàn đời của xứ này. Nhớ tới một xứ cũng đông dân trên một diện tích rộng lớn có nhiều sắc tộc và mâu thuẫn là Ấn Độ thì ta thấy dân chủ không là một rủi ro và chế độ liên bang mới là giải pháp. Đó là thử thách của Trung Quốc trong thế kỷ 21 này, may ra thế hệ lãnh đạo thứ sáu, đã tốt nghiệp ở bên ngoài, thì có thể hiểu được và dám làm, nếu xứ này chưa bị loạn trước đó.
NGUYỄN XUÂN NGHĨA &VIỆT LONG RF
Tự do nhân tính và tự do thú tính
Ngô Nhân Dụng
Những ngày cuối năm, tôi mới đọc một bài của Tu Wei-ming viết về Yen Yuan (Nhan Nguyên), một triết gia người Trung Hoa đời nhà Thanh. Ông sinh năm 1635, một thế hệ sau những Hoàng Tông Hy, Cố Viêm Vũ, nhưng không được nổi danh như hai vị đại Nho này.
Cho tới đầu thế kỷ 20, Lương Khải Siêu “khám phá” ra và tán dương những tư tưởng của ông mà Lương gọi là “Thực tế, thực dụng chủ nghĩa.” Nhan Nguyên là người dám công kích những ý kiến của Trình Dị – Chu Hi đời Tống vì thấy là phù phiếm; trong lúc giới trí thức chung quanh và nhà nước quân chủ vẫn tôn sùng như các lý thuyết đó giáo điều. Ông chủ trương phải chú trọng đến thực hành, phải thực tập các tiêu chuẩn đạo lý. Ông suốt đời không ra làm quan; có lúc làm ruộng để sống, rồi bốc thuốc, dậy học.
Trong bài báo này tôi sẽ không dám làm phiền quý vị độc giả về những trước tác và tư tưởng mới mẻ của Nhan Nguyên, như Giáo Sư Tu Wei-ming (Ðỗ Duy Minh, đọc lối Việt Nam) đã trình bày. Chỉ muốn kể một câu chuyện về ông rất đáng nhớ. Năm Nhan Nguyên 15 tuổi, bố ông đã bị mất tích từ lâu, mẹ đã tái giá, ông nội lo cho tương lai cháu cho nên đút tiền các học quan trong huyện, xin cho cháu được qua kỳ khảo hạch để chuẩn bị đi thi. Khi biết chuyện ông nội đã đi hối lộ cho mình kiếm được một mảnh bằng, cậu bé 15 tuổi đã bật khóc. Cậu nói: Tôi thà làm một anh dốt chữ thật còn hơn làm một anh hay chữ giả!
Sống thật, không sống giả, đó quả là một châm ngôn dễ hiểu nhưng khó thực hành, nhất là ở Việt Nam bây giờ. Nhà giáo Hà Sĩ Phu đang ở Ðà Lạt gần đây đã bàn về thứ “Văn Hòa Mặt Dày,” nhân một bài nhan đề như vậy trên mạng Bô Xít Việt Nam. Ông viết, “Thứ ‘Văn hóa mặt dày’ sở dĩ vênh váo được vì có một hệ thống công khai nuôi dưỡng nó, (lúc chịu đòn cũng chỉ là đòn giơ cao đánh khẽ), trong khi ‘đối thủ’ của nó là một nền văn hóa biết xấu hổ, biết đau khổ (về tình trạng thua kém, về tình trạng lệ thuộc, đáng tủi nhục của nhân dân mình, của đất nước mình) lại đang ở vào thế bị bị lép vế, bị áp chế, càng yêu nước càng bị người đại diện cho nước đánh đòn.”
Hà Sĩ Phu viết bài trên trước khi có tin 16 quan chức tỉnh Hà Giang, trong đó có ông chủ tịch Nguyễn Trường Tô đã được tha, không bị truy tố gì cả trong khi hai nữ sinh trong số các nạn nhân vẫn bị đưa ra tòa về tội môi giới. Nhưng Hà Sĩ Phu đã bàn trước: Phải thương, rất thương các cháu gái nhỏ đang thành những nạn nhân khốn khổ do “lũ” người “lớn” tạo ra, và thả các cháu Hằng cháu Thúy ra ngay mới phải! Nhẹ tay với thủ phạm nhưng nặng tay với nạn nhân là nghĩa làm sao?
Quả thật, hai cô học trò bị tố tội môi giới năm nay mới 18, 19 tuổi. Trong thời gian mà hai cô bị tố đã làm nghề môi giới đưa các bạn gái cùng trường tới hiến cho các quan chức trong tỉnh, các cô bé này chưa đến tuổi thành niên để làm bất cứ nghề môi giới nào, dù môi giới đưa tiền hối lộ, môi giới ở thị trường chứng khoán hay trong mạng lưới nhện của ông Mã Giám Sinh hiệu trưởng Sầm Ðức Xương. Nhưng các quan đầu tỉnh thì được coi như vô tội, còn hai cô học trò con nhà dân dã thì sẽ bị kết tội. Sống thật khổ, sống giả sướng!
Nguyên nhân cảnh suy đồi về đạo lý này, Hà Sĩ Phu nhìn thấy trong hệ thống chính trị. Trong mỗi con người chúng ta, ông thấy có phần người thật và phần thú vật. Một chế độ chính trị bóp nghẹt không cho phần con người được tự do (tự do tư tưởng, tự do phát biểu, tự do chọn người cai trị bằng lá phiếu, vân vân) thì phần con thú trong mọi người được tự do nhiều hơn, không còn gì ràng buộc nữa.
Hà Sĩ Phu viết: “Những hiện tượng Nguyễn Trường Tô, Hoàng Thùy Linh, hiện tượng bạo lực học đường, bạo lực xã hội, nữ sinh lõa lồ đánh nhau (mà còn quay phim) đưa clip lên mạng… chỉ là những ví dụ nhỏ trong hệ thống thiếu tự do nhân tinh của một nền dân chủ, dẫn đến phát triển tự do thú tính hoang dã. Một cách tự nhiên, con ‘thú’ lớn vạch đường cho những con ‘thú’ nhỏ, noi gương nhau cả thôi.”
Phát triển Tự Do Thú Tính trong khi đàn áp Tự Do Nhân Tính, tạo nên một nền Văn Hóa Mặt Dày, không những dẫn tới một xã hội vừa vô đạo lý vừa bất công, mà còn đưa đất nước tới chỗ suy yếu, khi tất cả xã hội phải sống hoàn toàn bằng giả trá, mạo hóa, gian manh, lừa dối. Chế độ ở nước ta hiện nay tên là gì? Họ gọi là Xã hội Chủ nghĩa. Ðảng cầm quyền tự gọi là đảng Cộng Sản. Nhưng ngay cả các đảng viên Cộng Sản cũng biết, từ cách suy nghĩ đến các hành động của những người đang nắm quyền trong tay, và đang chuẩn bị nắm quyền thêm 5 năm nữa, họ không có gì liên quan đến chủ nghĩa Cộng Sản của ông Karl Marx cả. Ai cũng thấy, chế độ xã hội và kinh tế thực sự ở nước ta bây giờ là một chế độ tư bản, mà là thứ kinh tế tư bản thời hoang dã, trước đây vài thế kỷ, trước khi ông Karl Marx đề ra những phân tích của ông.
Trong một trăm năm kể từ khi ông Karl Marx viết bản tuyên ngôn Cộng Sản, chính nền kinh tế tư bản mà ông phân tích đã thay đổi. Bản chất của nền kinh tế đó không thay đổi: Kiếm lợi. Tối đa hóa doanh lợi. Nhưng con thú trong mỗi người là lòng tham không còn được tự do như thời hoang dã nữa. Bao nhiêu thứ luật lệ đã được loài người đặt ra để kềm chế lòng tham. Cho nên mới có những luật lệ cấm kết bè đảng để chiếm độc quyền; những luật lệ bảo đảm tự do lập công đoàn, bảo vệ người lao động; những luật lệ kiểm soát thực phẩm, thuốc men, bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người tiêu thụ, vân vân và vân vân. Mối lo của nhân loại là làm sao hạn chế những Tự Do Thú Tính.
Chế độ kinh tế tư bản đã thay đổi không phải vì lòng từ thiện của các nhà tư bản. Sự thay đổi đạt được là do người dân đã tranh đấu để được tự do. Có như vậy thì những quyền Tự Do Nhân Tính mới có cơ hội nảy nở và được tôn trọng. Sức mạnh của kinh tế tư bản là tự do cạnh tranh. Không có tự do ganh đua nhau thì kinh tế không thể tiến. quyền tự do kinh tế lại phải gắn liền với quyền tự do chính trị. Vì nếu anh không được tự do về chính trị thì có cái gì bảo đảm là quyền tự do kinh doanh của anh không bị xâm phạm? Ðến lúc nào thì những kẻ có quyền có thế sẽ không tha mà bắt đầu chiếm đoạt tài sản do anh tạo ra?
Gần đây ông Vũ Cao Ðàm cùng mấy người bạn đã đưa lên mạng lưới Bô Xít một bài về ông Trần Xuân Bách, viết nhân ngày giỗ đầu của ông. Trong các cuộc gặp gỡ, thảo luận với các nhà chuyên môn về kinh tế và chính trị, ông Trần Xuân Bách đã đi tới ý tưởng là phải thay đổi cả về kinh tế lẫn chính trị. Ông tên thật là Vũ Thiện Tuấn quê tại xã Nam Ninh, Nam Ðịnh, đã làm bí thư trung ương đảng và ủy viên Bộ Chính Trị, nhưng sau khi thấy Cộng Sản sụp đổ ở Ðông Âu ông đã tỉnh ngộ. Theo ông Vũ Cao Ðàm thuật lại thì ông Trần Xuân Bách đã thấy rằng “…đã đa thành phần kinh tế, mà anh gọi là ‘đa nguyên kinh tế,’ thì tất yếu sẽ dẫn đến ‘đa thành phần’ trong xu hướng chính trị, mà anh cũng thẳng thắn gọi là ‘đa nguyên chính trị’”. Ngoài ra, ông Vũ Cao Ðàm kể, “anh (Trần Xuân Bách) đưa ra nhận định khái quát: Thị trường và đa nguyên là những thành tựu nổi bật của nhân loại.” Chế độ Cộng Sản xóa bỏ thị trường, đàn áp chủ trương đa nguyên, Trần Xuân Bách đã nhìn ngược lại. Ngày mai là ngày giỗ ông, nhắc lại những ý kiến của ông do những người thân cận kể lại, để ghi nhận không phải người Việt Nam nào đã bước vào con đường công danh Cộng Sản cũng tự từ bỏ trí suy nghĩ và lòng khát khao muốn sống lương hảo.
Có thể nói ông Trần Xuân Bách không cần phải nghiên cứu kinh tế học mà chỉ cần dùng lương tri của con người bình thường cũng thấy được là kinh tế thị trường chỉ có thể phát triển tốt đẹp khi đi cùng chế độ tự do dân chủ. Còn như bây giờ, kinh tế Việt Nam nằm trong tay một nhóm quả đầu, họ thao túng thị trường kinh tế nhờ nắm chặt quyền hành chính trị. Khi nhìn vào chế độ gọi là Cộng Sản ở nước ta bây giờ, thấy trong thực tế họ đang xây dựng một xã hội tư bản giả, thứ tư bản thời hoang dã trước đây 200 năm! Chính trong tình trạng đó mà Tự Do Nhân Tính thì bị đè nén để nhóm quả đầu tiếp tục chiếm độc quyền. Còn Tự Do Thú Tính được thả lòng cho vẫy vùng vì cả xã hội phải sống giả dối. Trên dối dưới, dưới dối trên, tất cả đồng lõa gọi tên nhau là cộng sản nhưng ăn cắp và hối lộ theo lối tư bản thời hoang dã. Luân lý suy đồi vì một lý do mà Soljenytsin đã từng nêu ra: Một chế độ độc tài với một guồng máy đàn áp bao giờ cũng phải kèm theo một guồng máy nói dối. Guồng máy nói dối đó gọi là Ban Tuyên Huấn, Tuyên Giáo hay là Ban Văn Hóa, Tư Tưởng, những cái tên càng đẹp đẽ thì tính chất gian dối càng lộ liễu, không người dân nào không thấy là dối trá. Nhưng cuối cùng bao nhiêu người vẫn phải ngậm miệng sống hùa theo tự do thú tính, nhắm mắt không thấy nhân tính của mình bị mất tự do. Vì sống thật thì khó, sống giả thì dễ!
Chỉ còn vài tuần lễ nữa, đảng Cộng Sản Việt Nam lại họp đại hội. Chắc không ai trong đại hội đó dám nói như lối cậu bé 15 tuổi Nhan Nguyên hơn ba thế kỷ trước: Thà rằng làm tư bản thật còn hơn làm cộng sản giả!
Chế độ cai trị của nhà Thanh rất khắc nghiệt nhưng họ vẫn phần nào tôn trọng vai trò của các nhà trí thức. Vua Mãn Thanh muốn tập trung sách vở để dễ kiểm soát, nhưng chưa đến nỗi cấm tuyệt các nhà Nho không cho ai được tự do viết nữa. Cho nên mới có những người như Hoàng Tông Hy, đã đề xướng một cách tổ chức xã hội có thể coi là mang tính chất phân quyền, và hiến định, với mục đích giới hạn quyền hành của vua quan. Cho nên, Nhan Nguyên dám chỉ trích cả lý thuyết chính thống Trình Chu mà không bị ngăn cản. Nếu sống vào thế kỷ 21 này họ chắc sẽ trở thành những người làm “blog” như Ðiếu Cày, như Mẹ Nấm!
Nhan Nguyên cả đời không dính tới quan trường mà chỉ ngồi nhà dậy học, viết sách; trước khi mất năm 1704, ông còn dặn bảo các học trò: Hãy cố học, thực tập, và sống sao cho hữu ích. Thanh niên Việt Nam bây giờ có được thầy giáo, cô giáo dậy như thế hay không?
Học được đúng lời khuyên đó, các em sẽ biết hổ thẹn, không còn sống theo Tự do Thú tính nữa. Sẽ có ngày các em học sinh sẽ đứng lên đòi những Tự do Nhân tính. Ðể sống hữu ích.
Nước Nhỏ Nhưng Có Phải Là Nhược Tiểu Không?
Cali Today News – Trong tiến trình phát triển của nhân loại, từ bộ tộc, rồi sau này trở thành quốc gia, chủ trương “sức mạnh ở trên lưỡi gươm”, “cá lớn nuốt cá bé”, “mạnh hiếp yếu” là tối thắng. Một số các nước nhỏ sở dĩ còn tồn tại tới ngày nay là nhờ dũng cảm chiến đấu, song cũng có thể vì yếu tố địa lý – xa xôi cách trở chẳng hạn. Nhưng phần lớn là nhờ sự tranh chấp giữa các nước lớn khiến nước nhỏ trở thành “vùng trái độn” hoặc “ vùng quyền lợi sinh tử” không ai dám thôn tính, hoặc bất ổn bên trong các để chế khiến tham vọng thôn tính các nước nhỏ bị ngưng lại. Thế nhưng thời kỳ tự do chinh phạt, lấn chiếm đất đai, bắt nạt người ta qua rồi.
Khi cuộc Chiến Tranh Lạnh chấm dứt vào năm 1991 và khi nhân loại bước vào Thế Kỷ 21 với Toàn Cầu Hóa, cộng thêm với cuộc cách mạng về tin học và truyền thông, thì thế giới thu nhỏ lại và mọi quốc gia, dù chỉ là hòn đảo nhỏ bé cũng có tiếng nói. Liên Hiệp Quốc, dù không phải là toàn năng nhưng là một diễn đàn, một áp lực có tính cách quốc tế để có thể ngăn chặn những tham vọng cuồng điên. Đây chính là thời kỳ “vàng son “mà các nước nhỏ, xưa gọi là “tiểu nhược quốc” thoát khỏi thân phận hèn kém để vươn lên. Nhưng các nước nhỏ, nạn nhân của thời kỳ Thực Dân Đế Quốc cũng nên quên đi quá khứ, từ bỏ quan điểm thù hận và kiêu căng phách lối là mình đã đánh đuổi họ, để nhìn về tương lai: Đó là tương lai của một nước nhỏ có bản sắc, phát triển và ổn định và được thế giới yêu mến, kính phục. Chuyện này có thể làm được không?
Nhìn vào các quốc gia như Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sĩ chúng ta thấy gì? Họ chỉ là các nước nhỏ so với các quốc gia khác ở Âu Châu. Na Uy chỉ có 5 triệu dân, Thụy Điển 9 triệu dân, Thụy Sĩ khoảng 8 triệu. Thụy Sĩ có ranh giới chiến lược với 4 nước mạnh là Ý, Pháp, Đức, Áo mà duy trì được thể chế trung lập cho tới ngày nay. Thành Phố Genève (Geneva) là nơi tổ chức những hội nghị quyết định vận mệnh của thế giới, nhưng Thụy Sĩ lại là quốc gia duy nhất không gia nhập Liên Hiệp Quốc (LHQ) để tránh liên lụy tới các quyết định của LHQ nhiều khi rất bất công do các siêu cường áp áp đặt. Còn Na Uy và Thụy Điển hiển nhiên không phải là các nước lớn và mạnh, dĩ nhiên trình độ phát triển cao nhưng không phải là dẫn đầu thế giới nhưng tại sao họ lại được toàn thế giới kính nể? Họ có ranh giới với một nước khổng lồ là Liên Xô, nay là Liên Bang Nga, nhưng liệu trong đầu người Nga có ai dám nghĩ đến chuyện xâm chiếm hai nước nhỏ này không? Sự kính nể của thế giới dành cho hai nước Na Uy và Thụy Điển nằm ở chỗ: đất nước thanh bình, người dân hiền hòa, giàu lòng nhân ái, đóng góp tích cực vào nền hòa bình, khoa học và văn hóa cho nhân loại. Điều quan trọng đáng nói ở đây là đời sống của người dân trong nước không đua chen, hưởng thụ, tranh nhau làm giàu như Tây Âu, Nhật Bản, Trung Hoa và Hoa Kỳ. Tôi có kỷ niệm gặp gỡ một vị nữ bác sĩ người Thụy Điển tại trại tiếp cư Bataan Phi Luật Tân năm 1985 như sau: Trong thời gian này tôi phục vụ tại Chùa Vạn Hạnh là ngôi chùa do đồng bào Phật tử đến trước, tự thiết lập tại đây. Sư cô trụ trì có một người em trai bị bệnh thần kinh và dĩ nhiên được Văn Phòng Cao Ủy Tỵ Nạn cử người tới chăm sóc. Ngày nọ, một vị nữ bác sĩ tới thăm. Phải nói, tôi đã nhìn thấy khá nhiều phụ nữ Tây Phương, ngoài đời cũng như qua phim ảnh nhưng chưa thấy một người đàn bà nào đẹp và giản dị như thế. Đây không phải là vẻ đẹp thường tình –  mà là vẻ đẹp mảnh mai, trí thức và quý phái. Khi tôi cho biết cậu em của sư cô còn đang ngủ, bà ra dấu cho tôi chớ đánh thức cậu ấy dậy, và đứng đó chờ như một người mẹ hiền nhìn con. Trong thời gian chờ đợi tôi hỏi bà đến từ quốc gia nào và có mở phòng mạch tư không? Bà cho biết bà là người Thụy Điển và không hề có ý nghĩ mở phòng mạch tư vì lương chính phủ trả đủ sống, bà không hề có ý nghĩ làm giàu mà dành thì còn lại giúp người tỵ nạn. Cảm giác của tôi lúc bấy giờ thật vô cùng ngạc nhiên và kính trọng. Kính trọng bà và kính trọng đất nước Thụy Điển đã thực hiện được một thứ “Chủ Nghĩa Xã Hội Bắc Âu” có một không hai trên hành tinh này. Nơi mà mọi công dân hạnh phúc với một số lương vừa đủ, không toan tính làm giàu, không chạy đua theo nhu cầu phù phiếm của vật chất mà dành thời giờ dư thừa của mình để giúp đỡ người khác. Vậy thì một nước nhỏ có phải là một nước nhược tiểu yếu hèn không?
Trở lại trường hợp của Á Châu. Có một quốc gia, đó là Thái Lan. Với dân số 68 triệu dân (thống kê 2010), Thái Lan phải kể là một trong những nước nhỏ, thụ hưởng một nền hòa bình lâu lài, với chính sách ngoại giao khôn khéo, kinh tế phát triển, đất nước đoàn kết vì sự thuần nhất về văn hóa do ảnh hưởng sâu xa của Phật Giáo, tại sao sau hơn nửa thế kỷ, lại không thể tiến lên như là một quốc gia được kính nể như các quốc gia nhỏ bé ở Bắc Âu? Có hai nguyên do: Thứ nhất đất nước này luôn luôn bị trì trệ bởi nạn  tham nhũng và sự lũng đoạn của nhóm quân phiệt khiến gây bất ổn chính trị triền miên. Nền dân chủ chính thức được thiết lập năm 2001 với cuộc bầu cử trong sạch đưa Ô. Thaksin – thành vị thủ tướng dân sự lần đầu tiên. Thế nhưng nền dân chủ non trẻ này chết yểu năm 2006 bởi cuộc đảo chính của nhóm quân phiệt, cáo giác Ô. Thaksin tham nhũng và bất minh trong việc quản trị đất nước. Thái Lan có đầy đủ điều kiện để tiến tới một nước nhỏ được yêu mến và kính nể như hai nước Na Uy và Thụy Điển, Thụy Sĩ …cơ hội đó sẽ không bao giờ có nữa nếu Thái Lan không biết kiềm chế các nhóm quân phiệt và điều chỉnh lại đường lối phát triển và lối sống của đất nước. Thật là đáng buồn cho Á Châu.
Tuy nhiên trong sự chán chường đó chúng ta chợt nhận ra một tia hy vọng – đó là đất nước Tích Lan. Tích Lan (Sri Lanka), 20 triệu dân (thống kê 2010) cũng bị đủ các loại thực dân như Bồ Đào Nha, Hòa Lan và  Anh dày xéo, cải đạo, khai thác tài nguyên thiên nhiên. Tích Lan giành được độc lập năm 1948 nhưng cuộc nội chiến khốc liệt giữa hai sắc dân Sinhalee (đa số) và Tamil (thiểu số) bùng nổ vào năm1983. Vào năm 2009 tổng thống Sri Lanka chính thức tuyên bố cuộc nổi loạn của Mãnh Hổ Tamil bị dẹp tan. Sri Lanka là thành viên của Liên Hiệp Quốc,  Khối Thịnh Vượng Chung (của Anh), G77 và Phong Trào Phi Liên Kết (Non-aligned Movement). Tích Lan tham gia vào lực lương gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc và đã gửi quân tới Haiti năm 2009. Hiện nay, với tình hình chính trị ổn định, đất nước với dân số 70% là Phật tử, thuần nhất về văn hóa, vốn là một dân tộc hiền hòa, Sri Lanka đang có những nỗ lực đáng kể hoằng dương Đạo Phật trên thế giới như là một Tôn Giáo Phục Vụ Hòa Bình và được rất nhiều các quốc gia Tây Phương cũng như Á Châu kính nể. Tích Lan được coi như quê hương thứ hai của Phật Giáo.
Nhìn vào những trường hợp điển hình như Na Uy, Thụy Điển và Tích Lan chúng ta thử hỏi: Đâu là những điều kiện thiết yếu để một nước nhỏ tạo được sự kính nể và bảo vệ của thế giới?
Sau đây là một số nhận xét:
Hầu như tại các quốc gia trên đều có những điểm tương đồng như sau:
1) Không gây chiến, lấn chiếm đất đai của các nước láng giềng. Nếu chúng ta chủ trương gây chiến, lấn đất, bá quyền, bắt nạt các nước láng giềng thì chúng ta lộ rõ bộ mặt hiếu chiến. Khi đó cả thế giới sẽ xúm lại giương cao ngọn cờ “Thế Thiên Hành Đạo” để tiêu diệt chúng ta. Nếu Saddam Hussein không xâm lăng Kuwait vào năm 1990, không bị nghi ngờ cất giấu vũ khí giết người hằng loạt thì năm 2003, đã không bị liên quân Mỹ-Anh tấn công và tiêu diệt. Ngoài ra họ lại có chính sách ngoại giao cực kỳ bén nhậy. Không hấp tấp dính líu vào những tranh chấp trên thế giới, ngoại trừ tranh chấp đó liên hệ đến sự tồn vong của đất nước.
2) Tăng cường quốc phòng nhưng không chạy đua vũ trang khiến các nước trong vùng phải lo sợ. Hiện nay các nước Ả Rập rất lo ngại sức mạnh quân sự và sự de dọa của Iran. Các quốc gia Đông Nam Á, kể cả Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Úc Châu đang lo ngại sức mạnh quân sự của Trung Hoa trên biển và những tuyên bố rất hung hăng, vô lý về chủ quyền của các Quần Đảo Hoàng Sa, Trường Sa, lãnh hải và thềm lục địa.  Ngày hôm nay, người hùng của thế giới không phải là những kẻ hung bạo đi xâm chiếm đất đai của các nước khác, hoặc chiến thắng lẫy lừng của các ông tướng như Hitler, Thành Cát Tư Hãn, Alexander Đại Đế năm xưa, kể cả ông tướng Brent Scowcroft chỉ huy cuộc hành quân Bão Tố Sa Mạc lật đổ Saddam Hussein v.v.. mà là sự tuân thủ hợp lý các quy tắc quốc tế, sống hòa bình với các nước lân cận và giữ gìn hòa bình cho thế giới. Do đó các quốc gia có biên giới là bờ biển phải đạt cho được những thỏa hiệp phối hợp quân sự, dân sự, tuần tra trên biển với các quốc gia trong vùng để bảo đảm an ninh và công bình trong việc khai thác dầu khí, ngư nghiệp và hàng hải thương thuyền.
3) Phi hạt nhân, ký kết các thỏa ước phi nguyên tử với Liên Hiệp Quốc hoặc các quốc gia trong vùng. Lấy một ví dụ nhỏ. Chẳng hạn bây giờ Miến Điện có bom nguyên tử thì Phi Luật Tân, Mã Lai, Việt Nam, Nam Dương, Thái Lan nghĩ sao? Đừng tưởng có bom nguyên tử là mình sẽ trở thành cường quốc. Bắc Hàn có bom nguyên tử đó, nhưng Bắc Hàn có phải là cường quốc không? Nếu cuộc chiến nổ ra, chắc chắn đối phương phải dùng bom nguyên tử đánh phủ đầu để tiêu diệt Bắc Hàn. Khi đó Bán Đảo Triều Tiên sẽ ra sao?
4) Tuân thủ Hiến Chương LHQ. Tại sao nước nhỏ lại phải dựa vào “chiến lược” tuân thủ Hiến Chương LHQ? Dù muốn dù không, Liên Hiệp Quốc vẫn là một diễn đàn quốc tế để giải quyết những mâu thuẫn của thế giới. Một quốc gia bị Liên Hiệp Quốc lên án, sớm muộn thế nào cũng bị cấm vận, cô lập. Chủ Nghĩa Phân Biệt Chủng Tộc Nam Phi (Apartheid) bị xụp đổ vì sự lên án của thế giới. Trước con mắt của thế giới, chiến lược của một nước nhỏ, nhất là nước nhỏ nằm sát một nước lớn, luôn luôn là thái độ hiếu hòa, và cho cả thế giới thấy mình đang bị nước lớn bắt nạt, ăn hiếp. Đừng bao giờ bày tỏ thái độ hung hăng, hiếu chiến. Càng mềm dẻo càng tốt. Nhưng chắc chắn mềm dẻo không có nghĩa là yếu hèn.
5) Giao hảo với tất cả các quốc gia trên thế giới. Nước nhỏ mà đóng cửa rút cầu, không chơi với ai là tự sát. Giao hảo với các quốc gia trên thế giới có nghĩa là làm ăn buôn bán với họ. Khi có giao thương như thế thì quyền lợi mới gắn bó. Khi quyền lợi vật chất gắn bó thì cam kết mới nảy sinh. Xin nhớ cho cả thế giới này “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Giả dụ Ả Rập không ngồi trên giếng dầu hỏa thì có lẽ Tây Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ không phải bận tâm, lo lắng đến như thế.
6) Vận động để một phân bộ nào đó của LHQ có  trụ sở tại thủ đô để đất nước mình trở thành “tai mắt”của thế giới. Khi có trụ sở Liên Hiệp Quốc đóng tại sứ sở mình điều đó có nghĩa là mọi hành vi của kẻ xấu muốn xâm phạm đất nước sẽ động ngay tới Liên Hiệp Quốc trước khi vấn đề được đưa ra Hội Đồng Bảo An. Ngoài ra cũng cần mở rộng phạm vi hoạt động cho các hãng thông tấn quốc tế mà không sợ họ dòm ngó đất nước mình. Đối với phóng viên, báo chí nước khác thì tôi không rõ. Trong một cuộc điều trần tại quốc hội dưới thời TT. Bush (Con), Giám Đốc Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) xác nhận rằng CIA không bao giờ xử dụng phóng viên báo chí, thông tin viên truyền hình v.v..làm mật báo viên. Tôi tin tưởng vào điều này vì báo chí Hoa Kỳ là cơ quan độc lập, họ còn phanh phui hoặc tố giác cả những hoạt động của CIA và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ …đã tra tấn các tù binh bị giam giữ tại Guantanamo Bay (Cuba) mà họ nghi là các tay khủng bố Iraq và A Phú Hãn. Sự tố giác này làm rung chuyển nước Mỹ. Nói về sức mạnh và hữu hiệu của truyền thông Hoa Kỳ, thật tức cười, trong Cuộc Hành Quân Bão Tố Sa Mạc (Operation Desert Storm) năm 1992 chính Tổng Thống Bush (Bố) phải theo dõi các đài truyền hình CNN và Fox News để biết chính xác diễn tiến của cuộc tiến quân mà chính ông ra lệnh, bởi vì báo cáo của Bộ Quốc Phòng không kịp thời và sống động bằng trực tiếp truyền hình từng giây, từng phút của các phóng viên chiến trường. Khi các hãng thông tấn loan tin về một biến cố nào đó, có khi còn mạnh hơn lời kêu gọi của một vị nguyên thủ quốc gia.
7) Đóng góp nhân lực, tài lực cho các chiến dịch nhân đạo trên thế giới. Thế giới luôn luôn trân trọng đối với sự đóng góp của mọi quốc gia khi có thiên tai như bão tố, lụt lội, động đất, sóng thần v.v.. Là nước nhỏ không khả năng đóng góp nhiều thì đóng góp ít. Cố gắng vận động LHQ để tham gia vào các toán cứu trợ nhân đạo hay lực lượng gìn giữ hòa bình để tạo uy tín quốc tế.
8) Giáo dục dân chúng theo đuổi một cuộc sống “tri túc, thiểu dụng” không điên cuồng a dua và chạy đua theo xu hướng hưởng thụ. Nhà nhà sống trong tinh thần trọng pháp, thân ái và đặt giá trị con người lên trên hết. Trong lãnh vực này, vai trò của tôn giáo chủ trương một đời sống thạnh tịnh, các nhà đạo đức và trí thức rất quan trọng.
9) Ngày nay, thế giới thu hẹp và tương đối thái bình nên kỹ nghệ du lịch nở rộ. Khi du khách ngoại quốc tới đất nước mình là dịp để thu ngoại tệ và giới thiệu những nét hay đẹp về quê hương mình mà không cần quảng cáo. Do đó cần giáo dục dân chúng đối xử công bằng, lịch sự với du khách ngoại quốc, không coi du khách là cơ hội để trấn lột. Nhưng điều phải nhớ là – phát triển kỹ nghệ du lịch không có nghĩa biến đất nước thành ổ mãi dâm và sòng bài.Toàn dân phải ý thức rằng  đối xử đúng mức và lịch sự đối với du khách là giữ gìn danh dự, phẩm giá của dân tộc.
10) Giữ cho bằng được giá trị của đồng bạc, tránh lạm phát để thế giới tin tưởng. Một đất nước mà trị giá đồng bạc lên xuống bất thường sẽ tạo nghi ngại nơi thế giới và chắc chắn sẽ không được kính nể, chưa kể sợ thua lỗ họ sẽ rút những dự án đầu tư ra khỏi nước.
11) Bảo vệ môi trường sống, bảo vệ các loài thú hiếm quý. Biến đất nước thành một nơi du lịch lý tưởng về di tích lịch sử, về môi trường (rừng, núi, bãi biển, hồ, thắng cảnh) và cũng là nơi tìm thấy sự an tĩnh của tâm hồn, nét đẹp của thiên nhiên, con người…làm du khách nhớ mãi. Xin nhớ cho Phi Châu đang được thế giới thích thú vì những loại thú hiếm quý như sư tử, cheetah, beo gấm, ngựa vằn, hươu cao cổ v.v.. Phải bảo vệ các khu đầm lầy là nơi sinh sống, ẩn náu an toàn (Sanctuary) của các loài chim v.v..Các đầm lầy là “báu vật” để cân bằng khí hậu.
12) Xây dựng một bản sắc và văn hóa dân tộc thuần nhất khiến thế giới phải kính nể và đất nước đoàn kết. Một đất nước xung đột về tôn giáo, khác biệt văn hóa thì không có sự kính nể của thế giới, chưa kể đất nước sẽ tan nát. Muốn đất nước thuần nhất về văn hóa thì song song với tự do tín ngưỡng, phải có một dòng chính ”mainstream” tức là một tôn giáo làm trụ cột cho tâm linh và bản sắc dân tộc. Phải bảo tồn và trùng tu tất cả những di tích lịch sử. Thế giới ngày hôm nay là thế giới đa văn hóa. Tây Phương không còn coi văn hóa của họ là “rốn của vũ trụ” nữa. Họ rất thích thú trong việc nghiên cứu các nền văn hóa khác.
Những nhận xét trên đây có thể là rất chủ quan. Tuy nhiên nó là đề tài mà các nước nhỏ muốn vươn lên cần phải suy nghĩ. Các nước nhỏ nên lựa chọn một con đường phát triển như thế nào? Chính sách ngoại giao như thế nào? Xây dựng một mẫu mực đạo đức, tâm linh và văn hóa dân tộc như thế nào? Ngày nay, quan niệm “Nước xa không cứu được lửa gần” sai rồi. Một nước nhỏ vẫn có thể vững như bàn thạch nếu có chính sách ngoại giao khôn khéo và đi đúng nhịp thở của thế giới. Câu nói “Nước xa không cứu được lửa gần” xuất phát từ thời Xuân Thu Chiến Quốc khi các nước Tấn,Yên, Tề, Sở, …chưa có hàng không mẫu hạm, chưa có bom nguyên tử, chưa có hỏa tiễn liên lục địa, chưa có các pháo đài bay tàng hình Stealth thì làm sao có thể cứu được các nước Trần, Vệ, Sái ở xa xôi? Trong tình hình thế giới ngày hôm nay, với sự xuất hiện của siêu hàng không mẫu hạm như chiếc Washington thì dư “nước” để dập tắt “lửa gần”. Các nước nhỏ có thể tiêu vong trong các cuộc đụng chạm giữa các siêu cường. Nhưng các nước nhỏ cũng có thể nhờ đó mà vươn lên khi các siêu cường cọ sát với nhau. Tất cả tùy thuộc vào sự thông minh của một dân tộc. Suy nghĩ được như thế là đi vào chủ điểm: Nước nhỏ nhưng có phải là một nước nhược tiểu mãi mãi  không?
Đào Văn Bình

Hiệp định biên giới Việt- Trung: Được, mất, công, tội?

Ngày 30 tháng 12. 2010 – ngày cùng, tháng tận của năm thứ 10 thế kỉ 21, báo mạng VietnamNet đăng bài trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Hồng Thao
có học hàm học vị khá cao: Phó giáo sư ; Tiến sĩ; Phó chủ nhiệm UB Biên giới Quốc gia, người đại diện cho UB này phát biểu, giải thích trước công luận về qúa trình đàm phán đi đến kết qủa việc hoàn thành cắm cột mốc biên giới với Trung quốc.
Toàn bài viết toát lên mấy ý chính:
– Việc đàm phán với TQ  về BGQG giữa hai nước Việt – Trung vô cùng khó khăn…
– UBBGQG đã có ’’công lớn’’ trong việc đàm phán này (chứ  không có tội, như tiêu đề bài phỏng vấn của phóng viên Phương Loan…)
– Giải thích về việc 2 khu vực quan trọng – nhậy cảm của tổ quốc (bị mất) sau khi kí kết HĐBG với TQ: Thác Bản Giốc và Mục Nam Quan
– Cần phải làm gì để có thể bảo vệ biên giới trên đất liền, trên biển…
Ông NHT thay mặt UBBGQG thể hiện ý kiến mình bằng ngôn từ mềm mỏng khi trả lời phỏng vấn, nhằm hướng người nghe, người đọc vào mục đích chính: Nhận thức được UBBGQG đã hoàn thành ’’nhiệm vụ nặng nề’’, mà từ 1990 trở về trước – không làm được (việc cắm cột mốc biên giới Việt – Trung)…
Liệu cái việc-’’Trước không có – Sau này cũng (sẽ) không có’’ trong lịch sử của nước Việt Nam – có sẽ là cột mốc đánh đấu mối quan hệ tốt đẹp, hữu nghị,’’hướng tới tương lai’’ như Sếp lớn, Sếp vừa vừa, Sếp nhỏ của ông – Thứ trưởng bộ ngoại giao hi vọng – không?
Đáng ra phải công bố cho toàn dân biết đường biên mới được UBBGQG, thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước chỉ đạo –. đã hoàn thành . Thế nhưng – theo lời ông Thao – chưa thể công bố kết qủa bằng hình ảnh (bản đồ) trên hệ thống thông tin đại chúng (báo chí truyền thanh, truyền hình…), mà chỉ công bố từng phần trên trang Web của chính phủ…) . Bởi… tại … nhiều hồ sơ quá!
Theo tôi, đây không phải là lí do chính đáng, mà là’’lí trấu’’!
Bởi vì, trước khi tiến hành cắm mốc trên thực địa, đã được xác định trên bản đồ. Vậy, câu hỏi được đặt ra là: Vì sao UBBGQG VN – hay nói rõ ra – Đảng và chính phủ VN – cứ phải giấu giấu, diếm diếm nhân dân, nếu cái hiệp định hai bên kí kết thực sự trong sáng, không mờ ám?
Theo ông Thao: ’’toàn bộ khu vực tranh chấp Việt Nam – Trung Quốc có trên 200 km2, Hiệp ước hoạch định biên giới 1999 đã quy thuộc về Trung Quốc 117,2 km2, quy thuộc về Việt Nam là 114,9 km2…’’ .
Chúng ta nghi ngờ: Ông GS-TS Nguyễn Hồng Thao nói dối để tránh sự phẫn nộ của dân Việt khi biết rõ sự thật: Việt Nam đã  để TQ gặm nhấm một phần đất đai của tổ quốc mà ông cha, con cháu  nghìn đời đã giành được. Vì chưa có trong tay bằng chứng toàn bộ sự mất mát này, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu chỉ hai điểm’’nhậy cảm’’ mà mọi người dân VN thực mục sở thị: Thác Bản Giốc và Mục Nam Quan.
Sau Hiệp Định Biên giới 1999 phần chính của Thác Bản Giốc đã thuộc về TQ, phần thác phụ thuộc VN
Thế hệ những người hiện đang ở độ tuổi từ 50 đến 100,  (và kéo dài hàng trăm năm trước), ai cũng biết, cũng được học, nghe, nhìn nhiều lần ảnh chụp phong cảnh TBG ở địa phận tỉnh Cao Bằng, qua đó khẳng định TBG là của VN. Thế mà ông Thao lại cho biết nó của Trung Quốc… một nửa (…)! Nếu đúng vậy, ông và cái ủy ban của các ông hãy trưng ra các chứng cứ ’’của TQ một nửa’’ kia là từ đâu, văn bản nào?
– Về Mục Nam Quan:
Rất may, đây là cửa khẩu lớn cho người đi bộ, đi xe có động cơ và tầu hoả, nên mọi người dân đều chứng kiến: Theo thông lệ, bất cứ cửa khẩu nào cũng có 2 cửa vào – Một của bên này, một của bên kia. Khoảng cách chia đều 2 bên là đường trung tuyến nằm ở giữa khoảnh đất trống, người ta gọi là vùng trắng . Cả hai bên không được xây dựng bất cứ công trình nào ở khu vực này.Hiện, cả 2 cửa ải (cổng đi qua) đã nằm trọn bên phần đất của TQ. Tuy có xe ‚’Taxi’’ để đi từ cổng này tới cổng kia (vì dài mấy cây số), nhưng người quan tâm muốn đi bộ (để ngầm đo đạc) – mất chừng 40 phút. Nếu tính trung bình đi bộ 5Km/giờ , làm phép tính nhẩm sẽ ra kết qủa : Chúng ta mất khoảng trên dứơi 2Km chiều ngang và không rõ bao nhiêu Km chiều dài. Cứ giả thiết – tạm cho rằng khu vực cửa khẩu này , mỗi bên tính từ cổng cửa ải – cách xa dăm cây số thôi, số đất nằm tại nơi vô cùng thiêng liêng đối với dân tộc Việt Nam này – đã mất hàng chục cây số vuông.
Thế nhưng, ở cửa khẩu Mục Nam Quan , sự mất đất kia không thể tính bằng cây số, trăm mét… mà phải tính từng’’Tấc đất’’! Ông PGS, TS Thao – nói sơ sơ, lướt qua về khu vực’’nhậy cảm’’ chỉ nhằm che giấu sự thật viêc cướp đất trắng trợn của TQ. Mảnh đất thiêng liêng đã ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng dân Việt, đến độ lúc sinh thời, thi sĩ Hoàng Câm cảm khái viết vở kịch thơ Hận Nam Quan, tái hiện sự tích hai cha con ngài Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi chia tay nhau khi người cha bị giặc Minh bắt đưa đi biệt giam nơi xứ lạ quê người… Thế mà người đứng đầu UBBGQG – đại diện cho Đảng và Chính phủ VN – thể hiện ’’tấm lòng mình’’ khi bị TQ cướp – bằng 4 câu thơ sặc mùi’’Phản cảm’’, còn NHT trắng trợn tán dương:
’’…
Để khích lệ anh em chuyên viên chúng tôi, trưởng đoàn ta úy lạo anh em một chai Nếp Mới. Đại sứ Trung Quốc Tôn Quốc Tường góp chai Mao Đài. Nhân đó trưởng đoàn ta vịnh bốn câu thơ:
“Phân giới xong rồi nhẹ đôi vai
Đêm nay Nếp Mới với Mao Đài
Việt – Trung hữu nghị tình thắm mãi
Giữ trọn niềm tin hướng tương lai”.
Chúng tôi hiểu Trưởng đoàn muốn mượn thơ để nhắn nhủ: gần đến thắng lợi không thể tránh khỏi gian nan, Mao đài và Nếp mới là tượng trưng cho sự bình đẳng giữa hai nước, cũng có nghĩa là đêm nay còn có khác biệt,…’’!
– Than ôi!
– Có còn thiên lí nữa không?
– Có còn đạo lí của kẻ sĩ trong con người mang học hàm, học vị PGS, TS – Nguyễn Hồng Thao – nữa không?
Mùi xú khí từ bản Hiệp định – ’’còn thum thủm’’, chưa kịp tan biến trong không gian thì…’’MAO ĐÀI’’ (MĐ) tiến hành ngay chiến dịch cướp biển, bắt giam, cầm tù, tống tiền, bắn  giết con dâm của ’’NẾP MỚI’’ (NM) trong khi các’’Hào Kiệt – Lãnh đạo’’ của NM câm lặng!
Không biết những ’’ …(có) lãnh đạo – Hào Kiệt sáng suốt’’ – như PGS,TS Thao gọi, xưng tụng, kia – đã tỉnh ra chưa hay cứ vẫn tiếp tục u mê, thậm chí cố tình u mê trước các chiến dịch, nằm trong chiến lược bành trướng: Tung chưởng đá vào hạ bộ NM nhằm răn đe, nói theo ngôn ngữ dân dã hợi bị…’’chợ búa:
’’Cho mày bài học nữa để biết thế nào là hậu qủa khi không chịu nghe lời, vô lễ với bố mày! Đ… mẹ mày – Làm ông mất thời gian. Giờ có nghe lời không? Để vùng biển đấy cho tao, không được om sòm…. Mày chui ra từ cái đũng quần của tao (như dăm ba đứa cả đàn ông lẫn đàn bà, cả gìa lẫn trẻ – trong chúng mày – đã nhắc nhở, lên tiếng xác nhận…). Phải biết thân biết phận con ạ!’’
Với TQ, khi đám hậu duệ của Mao Trạch Đông quán triệt, thấm nhuần học thuyết:’’Súng đẻ ra chính quyền’’. Nếu lùi chúng một bước, chúng sẽ lấn tới 10 bước. Ông Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh –’’Anh hùng chống Mỹ’’ có vẻ rất tâm huyết với phưopng châm – Lùi một bước (để) tiến ba bước – khi trả lời phỏng vấn đài báo nước ngoài… đại ý : Bảo vệ tổ quốc không nhất thiết phải là cách tiến hành chiến tranh chống trả. Cách  bảo vệ tốt nhất, hiệu qủa nhất là… không để chiến tranh xẩy ra!
Không biết đây đúng là tư tưởng của ông hay chỉ là’’Võ nói dối của con nhà Võ’’(Trả lời phỏng vấn Radio nước ngoài). – như Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ giải thích hộ ông trước dư luận. Ai cũng biết vậy, nhưng’’Bọn bành trướng bá quyền nước lớn’’ không chịu như vậy. Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng ! Nếu, run sợ, chịu khuất phục thì chỉ có cách qùy xuống cam chịu làm thân dân phiên thuộc cho thiên triều  – nghĩa là mất nước – thôi! Đây có phải là câu nói của vị tướng Tổng tư lệnh quân đội không? Hay đây là cách bắn tin để tranh chiếc ghế TBT? (Giờ chức đó đã (sắp) của người khác)
Thưa ông Tổng Tư Lệnh Quân đội nhân dân VN anh hùng!
Đối với ’’Con hổ giấy’’ (Mỹ),’’Con gấu bông’’ (Nga) – kế thứ 37 của Tôn Vũ ’’Phẩy’’ (Tôn Vũ chỉ có 36 kế) – có thể may ra thực hiện được! Còn đối với’’con gấu trúc’’ (Tầu) – Đây chỉ là ảo tưởng! Con Gấu Trúc là ẩn thân của’’con sư tử ngủ’’ đã thành tinh. Bản chất của nó là hung hãn, ăn thịt và tìm cách ăn thịt tất cả mọi con mồi. Đất nước ông là con mồi hấp dẫn, béo bổ nên nó sẽ tìm mọi cách thanh toán con mồi mà nó đang thèm, như trong qúa khứ nó vẫn hướng tới, thực hiện mục đích này.
Thế nhưng xin ông hãy tỉnh mộng, nhìn thẳng vào sự thật khắc nghiệt!
Kế của ông – mà lúc còn đang ở ngoài nhà tù – Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ – rất yêu ông, bào chữa cho ông khi ông tuyên bố ở hội nghị bộ trưởng quốc phòng khối ASEAN làm dư luận lo ngại. Đó là suy nghĩ hoàn toàn viển vông, ông nên rút lại lời nói đó (cho dù cưỡi tên lửa đã không đuổi kịp chú đừng nói’’Tứ Mã Nan Truy’’). Cách chống trả hữu hiệu nhất đối với con sư tử thành tinh  là: Toàn dân tộc VN phải đoàn kết, đồng lòng chống trả. Phải làm như chị Ba Định, Chị Út Tích đã làm trong chiến tranh’’chống Mĩ cứu nước’’ – Còn cái lai quần cũng đánh!
Thực tế lịch sử của dân tộc đã chứng minh: Bọn phong kiến Trung Hoa chưa bao giờ thắng được dân tộc VN. Lịch sử thế giới cũng đã ghi nhận: Trung Hoa trông bề ngoài thế thôi, nhưng khi đi vào cuộc chiến, chúng mới thực là con’’hổ giấy’’. Bằng chứng là bọn Xâm lược Anh, Pháp, Đức  tiến vào, chúng liền dâng đất cho ngoại bang… Các chú Lùn (Nhật) đã làm mưa làm gió, cưỡi lên đầu chú Chiệc – nhiều năm…
Xa hơn nữa, ngược về qúa khứ: Dân tộc Mãn Thanh đã vào trung thổ rồi ’’Gọt đầu’’ (đàn ông) ,’’tháo tất bó chân’’ (đàn bà) –  Trung Hoa hơn một thế kỷ! Cần nắm lấy’’tử huyệt’’ này của chúng rồi dũng cảm, chiến đấu  bảo vệ tổ quốc – sẽ thành công. Ông và các bạn bè, đồng nghiệp võ – người lính,’’chức to lớn nhất’’ mà né tránh, lung lay, run sợ rồi ’’co vòi’’ thì dân Việt thật đáng thất vọng. Danh xưng Anh hùng mà nhân dân VN trao tặng cho ông trong quá khứ, ông cần phải bảo vệ như bảo vệ’’con ngươi của mắt mình’’!
Đối với ’’lãnh đạo – Hào Kiệt’’ của VN hôm nay: Xin nhắc các vị :
– Nếu những vị đứng đầu muốn thần phục thiên triều để kiếm lợi thì… nên thôi đi, thôi nhanh, lảng xa. Các vị đang làm’’Đầu gà’’, lẽ nào lại thích xuống làm’’Đít trâu’’? Một ở trên đầu, cho dù là con gà, vẫn hơn tụt xuống đít – mà lại là đít con trâu!…
– Bọn Tầu thâm độc lắm! Khi đang còn cần các vị, chúng sẽ thí cho bổng lộc. Khi không còn gía trị để lợi dụng, chúng sẵn sàng vất bỏ các vị như vất chiếc khăn đang lau mặt – xuống làm khăn lău nhà xí. Trong lịch sử của TQ từ cổ chí kim : Rất nhiều kẻ làm tay sai, nhưng kẻ thù của chủ – cho chúng  lợi nhiều hơn sự’’cống hiến’’ của tay sai, chúng giết ngay kẻ đã cúc cung tận tụy mình để dâng cho kẻ cho chúng lợi nhiều hơn, to hơn!
– Bọn Tầu rất tráo trở, phản trắc: Chúng không bao giờ coi lời hứa là quan trọng. Chúng có câu châm ngôn cửa miệng :’’Vì mục đích, bất chấp thủ đoạn’’. Mục đích hiện nay của TQ là bành trướng xuống phương nam, nuốt trọn vùng Đông Nam Á. Việt Nam là cửa ngõ, là đầu cầu nên phải dụ dỗ – mua chuộc – thậm chí tiêu diệt’’giải phóng mặt bằng’’ để đắp con đường cho đoàn quân Bành trướng – tiến!
Kí kết hiệp định biên giới trên đất liền, kí hiệp định phân chia vịnh Bắc Bộ và doạ dẫm đánh chiếm biển đảo tiếp theo sau… là chứng minh rõ ràng, xác thực nhất!
– Từ năm 1990 đến năm 2000 – qua 2 nhiệm kì TBT (khóa 7 do ông Đỗ Mười. Khóa 8 do ông Lê Khà Phiêu) nắm giữ. Các ông ấy vẫn còn dè dặt , không dám kí tắt  Hiệp định biên giới với TBT ĐCSTQ vì trong đó có nhiều điều bất lợi cho dân Việt, nước Việt. Chỉ đến khi ông Nông Đức Mạnh lên làm TBT 2 khóa 9,10 (2000 – 2010), bản Hiệp định bất bình đẳng trên đất liền, trên biển vịnh Bắc Bộ lập tức ra đời, đáp ứng yêu cầu của bọn đầu lãnh bá quyền Bắc Kinh.
– Tại sao vậy? Câu hỏi này xin để cho mọi người dân Việt Nam tự tìm câu trả lời, lịch sử của dân tộc ghi chép!
Đất đai của tổ tiên để lại thực chất đã bị mất nhiều! (nếu UBBGQG này công bố công khai – công bố bản vẽ đường biên cũ và đường biên mới – sẽ rõ ngay thôi).
Đối với PGS, TS, Phó Chủ nhiệm UBBGQG – Nguyễn Hồng Thao – xin nhắc :
Ông được coi là Trí thức có học hàm , học vị, chức tước, được xem như Người Quân Tử (NQT). Người quân tử thứ thiệt có bản chất:’’Giầu sang không thể quyến rũ. Gian khó không thể chuyển lay. Uy vũ không thể khuất phục’’. Ông hãy ngẩng cao đầu làm một người trí thức chân chính để làm gương cho con chắu, học trò mình. Lời ghi lạị trong bài phỏng vấn khiến người nghe, người đọc giật mình, cảm thấy PGS, TS , Phó chủ nhiệm UBBGQG VN – Nguyễn Hồng Thao đang triển khai ý kiến của đại sứ TQ tại VN – ngài Tôn Quốc Tường: Hợp tác sẽ phát triển. Đối đầu sẽ thất bại.
Học trò Đỗ Ngọc Bích mấy tháng trước và PGS Nguyễn Huy Qúy cựu viện trưởng viện Trung Quốc  mấy hôm nay – nói cùng chủ đề với Nguyễn Hồng Thao . Cách nói của 2 người này  trực tiếp, nhưng không sâu sắc lắm… còn cách nói của Hồng Thao tiên sinh thì uốn éo, vòng vèo… nhưng thâm thúy và nổi bật ý – vô cùng:
’’… Có mối liên hệ văn hóa sâu sắc. Gần đây cũng có ý kiến Kinh Dịch và tiếng Hán xuất phát từ tộc Bách Việt, mà một nhánh là Lạc Việt  (Việt Nam). Lịch sử hai nước gắn bó chặt chẽ với nhau, không chỉ ngàn năm lịch sử mà cả trong thời kỳ hiện đại. Cách mạng hai nước cũng gắn bó và hỗ trợ cho nhau. Hai nước cùng có những trăn trở vươn lên, Trung Quốc với 4 hiện đại hóa, Việt Nam với Đổi mới và đều đã có những thành công.
Chúng ta không thể sống tách biệt với Trung Quốc, cũng như Trung Quốc không thể sống tách biệt với Việt Nam. Tự nhiên và lịch sử đã đặt hai nước, hai dân tộc sống cùng nhau.
Một Trung Quốc phát triển, có trách nhiệm hơn với thế giới là điều đáng mừng, là cơ hội cho Việt Nam học hỏi vươn lên. Nhiều nước trên thế giới, ở xa  mong muốn hợp tác làm ăn với Trung Quốc, tại sao chúng ta ở gần hơn lại không nắm bắt cơ hội.
Một Trung Quốc mạnh cũng là thách thức không nhỏ nếu như chúng ta không chủ động vươn lên, không cải cách hành chính, kinh tế. Phải coi vị trí láng giềng của “người khổng lồ” là động lực để phấn đấu vươn lên…’’ (VietnamNet ngày 30.12.2010).
Hay!
Hay cho giọng lưỡi người trí thức quan trường – Nguyễn Hồng Thao!

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d người thích bài này: