Phạm Hồng Sơn : Vụ án Cù Huy Hà Vũ và những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam

Phạm Thị Hoài thực hiện
Phạm Thị Hoài: Thưa anh, vụ án Cù Huy Hà Vũ là một trong những sự kiện nổi bật năm 2011. Bản thân anh từng nhận một bản án tù chính trị năm 2003. Tám năm giữa hai vụ án, anh thấy có những thay đổi gì trong cách mà chính quyền Việt Nam đối xử với những người bất đồng chính kiến?

Phạm Hồng Sơn: Trước tiên xin được nói rõ lại một chi tiết nhỏ: trên văn bản chính thức thì bản án năm 2003 dành cho tôi (và cả bản án dành cho anh Cù Huy Hà Vũ vừa qua) không được coi là án chính trị, mặc dù trong mọi giao tiếp của quá trình tố tụng và thi hành án thì các nhân viên công quyền đều thừa nhận vụ việc của tôi là vụ án chính trị. Vâng, thế là đã tám năm rồi. Nhưng so sánh một cách tổng quát và cơ bản thì tôi không thấy có sự thay đổi gì trong cách chính quyền đối xử với những người bất đồng chính kiến. Mặc dù hai vụ án khác nhau hoàn toàn, như nguồn gốc xuất thân và cách lên tiếng phê phán chính quyền của anh Cù Huy Hà Vũ và tôi, cách tạo lý cớ, qui chụp, trấn áp của chính quyền, v.v. nhưng tinh thần tôn trọng pháp luật và khả năng dung thứ với chỉ trích, quan điểm khác biệt của chính quyền thì vẫn gần như không thay đổi. Hay nói cách khác, chính quyền vẫn giữ nguyên một cách ứng xử, đã thấy có từ năm 1954 đến nay, là phải dùng mọi cách, kể cả những cách phi pháp và thiếu đạo lý để hạn chế, vô hiệu hóa ảnh hưởng đối với xã hội của những người có quan điểm khác biệt với Đảng.
Phạm Thị Hoài: Nhưng trong những năm qua, Việt Nam đã đầu tư không nhỏ vào việc xây dựng và cải cách hệ thống luật pháp thuộc nhiều lĩnh vực.
Phạm Hồng Sơn: Vâng, trong tám năm đó nhà nước Việt Nam đã thực hiện những „cải cách tư pháp“ do chính ông Chủ tịch nước chỉ đạo và đã có những thay đổi về khung pháp luật hình sự, đó là Luật Tố tụng Hình sự đã được làm mới (vào cuối năm 2003) và Luật Hình sự đã được bổ sung và sửa đổi (vào năm 2009). Nhưng vụ án CHHV đã cho thấy những vấn đề cơ bản nhất để đảm bảo xác định được sự thật, bảo vệ được công lý, như Viện Kiểm sát phải kiểm tra, giám sát để đảm bảo cơ quan điều tra phải thực thi đúng pháp luật, xét xử phải được công khai theo nghĩa mọi người phải được tự do tham dự, việc kết án phải dựa trên sự tranh tụng giữa hai bên (bên cáo buộc và bên bị cáo buộc), báo chí (chính thống) phải tuân thủ tính độc lập, trung thực, công bằng…, vẫn y nguyên như cách đây tám năm, vẫn bị chính các cơ quan tố tụng từ chối thực hiện hoặc xâm phạm. Thậm chí các cơ quan này còn bất chấp, coi thường pháp luật, lý lẽ đến mức có những biểu hiện rất cẩu thả, kỳ cục. Chẳng hạn, trong phiên tòa sơ thẩm cách đây tám năm trong vụ án của tôi, ông thẩm phán chủ tọa Hội đồng xét xử đã chất vấn tôi về một bức thư điện tử có ngày gửi sau khi tôi đã bị đưa vào nhà tù rồi. Khi tôi nhắc chi tiết vô lý đó thì cả Hội đồng xét xử đều im lặng, rồi tôi thấy họ nháy nhau và chuyển luôn qua vấn đề khác. Thế mà tám năm sau lại vẫn xảy ra một việc tương tự trong vụ án CHHV, đó là Hội đồng xét xử của phiên tòa phúc thẩm đã dám khẳng định một cách hết sức cẩu thả rằng Điều 88 Luật Hình sự Việt Nam là sự cụ thể hóa Điều 19 của Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị. Đó là những vấn đề có tính chính danh và cơ bản về luật. Còn về những ứng xử khác có tính chất ngoài tố tụng, trong vụ án CHHV tôi vẫn thấy chính quyền sử dụng nhiều cách như cách đây tám năm, dĩ nhiên với qui mô rộng và mức độ mạnh hơn nhiều, như đe dọa trực tiếp hoặc gián tiếp người nhà, dùng truyền thông để bôi nhọ đối tượng, tung tin thất thiệt nhằm gây hoang mang, ngăn chặn sự ủng hộ đối với người bất đồng chính kiến. Đó là những điều tôi thấy không hề thay đổi, đáng tiếc đó lại là những vấn đề cơ bản nhất cho việc bảo vệ công lý, sự thật.
Phạm Thị Hoài: Về thủ tục tố tụng cụ thể, anh không thấy một tiến bộ đáng kể nào trong vụ án Cù Huy Hà Vũ?
Phạm Hồng Sơn: Những thay đổi theo xu hướng tiến bộ trong vụ án CHHV, rất tiếc lại chủ yếu mang tính hình thức hoặc không cơ bản. Ví dụ, giai đoạn điều tra trong vụ án CHHV đã được kết thúc rất nhanh (trong khoảng 1 tháng). Ở các vụ án tương tự trước đây, giai đoạn điều tra thường kéo dài khoảng 1 năm. Trong vụ án CHHV luật sư được gặp bị cáo nhiều hơn và thông tin được trao đổi cởi mở hơn. Nhưng cũng xin lưu ý rằng gần như đồng thời với vụ án CHHV, ở những vụ án chính trị khác, như anh Nguyễn Văn Hải Điếu Cày và nhiều người khác vẫn không được hưởng những tiến bộ có tính hình thức hay không cơ bản đó. Nhưng chúng ta không nên ngạc nhiên về những điều đó. Theo tôi, chừng nào hệ thống chính trị độc đảng còn tồn tại, chừng nào chưa có báo chí tự do, chừng nào chưa có các cơ quan giám sát độc lập thì những vấn đề về công lý, tố tụng vẫn sẽ tiếp tục như thế, những thay đổi có chăng chỉ là những biến tướng hình thức và có tính đối phó mà thôi.
Phạm Thị Hoài: Còn những thay đổi trong việc xác định tội danh?
Phạm Hồng Sơn: Về điểm này, theo tôi có thể chính quyền đã có một sự thay đổi chiến lược trong tám năm qua. Vào khoảng đầu năm 2000 trở về trước, tội danh “gián điệp” (Điều 80 Luật Hình sự) rất hay được chính quyền sử dụng để qui kết người bất đồng chính kiến. Nhưng nay, tội danh đó gần như đã vắng bóng và thay vào đó phần lớn là Điều 88 (Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam) hoặc Điều 258 (Tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ).
Phạm Thị Hoài: Anh từng bị kết án với tội hoạt động gián điệp. Vì sao khi ấy tội danh đó được ưa chuộng như vậy?
Phạm Hồng Sơn: Theo tôi có hai lý do. Thứ nhất, có thể tư duy của giới lãnh đạo khi đó vẫn còn mang nhiều sự nghi kỵ “ta – địch” của thời chiến, thời cấm vận. Thứ hai, có thể chính quyền muốn đưa ra một sự đe dọa hữu hiệu để đối phó với một diễn tiến mới, tất yếu, khi phải chấp nhận “mở cửa” với thế giới, đó là sự giao lưu, quan hệ, trao đổi giữa người Việt ở trong nước với người Việt ở ngoài nước và với bạn bè quốc tế. Tội danh “gián điệp”, như ta thấy, thường gợi nhiều yếu tố mập mờ, bí hiểm, khó đoán định. Cùng với tâm lý nói chung của xã hội (sau thời chiến) vẫn còn hoang mang, sợ sệt khi quan hệ với người nước ngoài thì “gián điệp” có lẽ là cái mũ hợp lý nhất để chụp cho những người bất đồng chính kiến thời mới mở cửa. Nhưng có lẽ sau này, khi thấy tội danh “gián điệp” cũng không thể ngăn cản được xu thế trao đổi, giao lưu trong ngoài mà còn có thể gây bất lợi trong quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây, gây lúng túng cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc đối phó với xu thế ngày càng có nhiều các đảng viên trở thành phản tỉnh, ủng hộ dân chủ. Chả lẽ một đảng “của dân tộc” mà lại có nhiều đảng viên và con cái của đảng viên làm “gián điệp” cho nước ngoài thế sao?! Và có thể khung hình phạt của tội danh “gián điệp” khá cứng, không đủ độ linh hoạt cho sự đối phó của chính quyền, nên việc qui tội cho người bất đồng chính kiến đã được chuyển phổ biến sang Điều 88. Nghĩa là, trong khoảng một thập niên qua, chính quyền đã phải chuyển trọng tâm từ việc ngăn cản giao lưu, trao đổi, quan hệ trong ngoài nước sang việc ngăn cản sự hình thành, truyền bá thông tin độc lập trong xã hội.
Phạm Thị Hoài: Trước tòa, anh Cù Huy Hà Vũ khẳng định mình không chống Đảng Cộng sản Việt Nam, không chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Một số nhà bất đồng chính kiến khác cũng xác định lập trường của mình tương tự như vậy…
Phạm Hồng Sơn: Tôi cũng hoàn toàn đồng ý là căn cứ vào pháp luật hiện hành và những gì anh CHHV đã biểu hiện thì không thể kết tội anh CHHV có hành động chống Đảng Cộng sản Việt Nam hay chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Nhưng xét rộng hơn nữa, ví dụ như dưới góc độ lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia, thì ngay cả khi chống lại một nhà nước cũng không thể có tội nếu nhà nước đó đi ngược lại lợi ích dân tộc hoặc không bảo vệ dân tộc, quốc gia trước sự xâm lấn, thôn tính của ngoại bang. Quan điểm riêng của cá nhân tôi và lịch sử phát triển của loài người cũng đã chỉ ra là mọi thứ đều có thể chống và nên chống nếu nó trở thành vật cản cho tiến bộ xã hội. Và loài người đã tìm được ra một cách thức “chống” rất văn minh và hiệu quả, có thể áp dụng cho mọi vấn đề, đó là phản kháng ôn hòa, bất bạo động (non-violent resistance).
Phạm Thị Hoài: Nhưng với đa số người Việt trong nước thì chống Đảng và Nhà nước đồng nghĩa với phản bội quốc gia, dân tộc, chưa kể đồng nghĩa luôn với phản bội nhân dân…
Phạm Hồng Sơn: Chính quyền Việt Nam từ năm 1954 đến nay ở miền Bắc và từ 1975 đến nay ở cả hai miền, đã thành công trong việc ấn định tư duy cho phần lớn dân chúng, trong đó có cả những người có học, có bằng cấp cao. Thay cho tư duy độc lập thì người ta thường tư duy theo những qui định ngầm, những gợi ý có tính khuôn phép, kể cả những quan niệm rất vô lý và kỳ cục như chị vừa nêu, của nhà cầm quyền. Nhiều người vẫn coi đảng cầm quyền và chính quyền, nhà nước thời nay như những thế lực thần thánh, bất khả xâm phạm, không dám đụng chạm đến, trong khi không có pháp luật nào qui định như thế. Chính đó là một trong những nguyên nhân khiến những sai phạm, hư hỏng, mục ruỗng có tính quốc gia tiếp tục được duy trì và ngày càng trở nên trầm trọng, bi ai như những gì chúng ta đang thấy.
Phạm Thị Hoài: Vụ án CHHV kéo theo một dư luận có lẽ là sôi nổi nhất trong các vụ án chính trị từ trước tới nay. Vai trò của dư luận ấy, theo anh, nên đánh giá như thế nào?
Phạm Hồng Sơn: Dư luận trong và ngoài nước đối với vụ án này vẫn chia ra hai luồng chính: một phía không ủng hộ (phản đối, phỉ báng, kết tội) Cù Huy Hà Vũ và một phía ủng hộ (bênh vực, ca ngợi, tôn vinh). Phía không ủng hộ gồm giới cầm quyền và thân chính quyền, những người còn chưa tiếp cận được với các nguồn tin độc lập, đa chiều và những người chưa hiểu được những quyền cơ bản của con người. Ở phía này tuyệt đối không thấy có những tiếng nói quốc tế. Phía ủng hộ có chung một đặc điểm là hoàn toàn không hiện diện trên các phương tiện truyền thông chính thống, nhưng đã trở thành một đối trọng không thể coi thường, đã gây một ảnh hưởng khá quan trọng tới vụ án. Nhiều người, trong đó có cả bản thân tôi, đã rất băn khoăn và lo lắng khi nhận được tin anh Cù Huy Hà Vũ bị bắt trong tình trạng rất nhạy cảm và trớ trêu, bị kèm theo “hai bao cao su đã qua sử dụng”. Nhưng những gì mà báo chí phi nhà nước (blog, website, radio) của người Việt thể hiện đã cho thấy dư luận tiến bộ nói chung, giới làm báo phi nhà nước nói riêng, đã khá thận trọng nhưng vẫn rất tự tin, quyết đoán để ủng hộ người yêu nước, người có chí khí trên cơ sở pháp luật. Điều đó không có nghĩa là đánh giá thấp vai trò của dư luận quốc tế hay xem nhẹ ảnh hưởng từ các mối quan hệ ngoại giao với các nước phương Tây. Nhưng phải thừa nhận một thực tế là quan hệ giữa Việt Nam với các nước phương Tây năm 2011 không thuận lợi cho những vận động quốc tế về tôn trọng nhân quyền bằng những năm đầu năm 2000 (khi Việt Nam chưa được hưởng quy chế PNTR, chưa được vào WTO).
Phạm Thị Hoài: Bối cảnh xung đột với Trung Quốc tại Biển Đông không phải là cơ hội để quốc tế vận động chính quyền Việt Nam tách khỏi Anh Cả Đỏ phương Bắc và nhích về phía các giá trị nhân quyền hay sao?
Phạm Hồng Sơn: Đáng lẽ ra là phải thế, nhưng thực tế lại cho thấy dường như toàn bộ ban lãnh đạo ĐCSVN hiện nay vẫn nhất quán trong việc ưu tiên duy trì quyền lực độc tôn của Đảng hơn vận mệnh quốc gia, dân tộc. Còn cộng đồng quốc tế thì lại có những cách hợp tác hiệu quả với chính quyền Việt Nam để kìm tỏa sự bành trướng của Trung Quốc và bảo vệ lợi ích của họ mà không cần phải đụng chạm tới vấn đề nhân quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, theo tôi, dù bối cảnh quốc tế, khu vực và quan hệ Việt-Trung sẽ diễn biến như thế nào thì việc có được một hệ thống truyền thông phi nhà nước, độc lập và đủ mạnh vẫn là một vấn đề trọng yếu, một vấn đề nền tảng cho các tiến bộ khác. Với kinh nghiệm của bản thân, tôi có thể nói rằng sau tám năm, dư luận tiến bộ trong nước (với sự hiệp đồng, hỗ trợ của dư luận người Việt ở nước ngoài và các hãng truyền thông quốc tế) đã có một bước trưởng thành đáng kể về qui mô, về khả năng nhận thức và ảnh hưởng đối với xã hội nói chung và với các vụ án qui buộc người bất đồng chính kiến như vụ án CHHV nói riêng.
Phạm Thị Hoài: Nếu xem đoạn phim 16 phút nhan đề “Sự thật về hành vi vi phạm của Cù Huy Hà Vũ” phát sau phiên tòa phúc thẩm trên Đài Truyền hình Việt Nam, phương tiện truyền thông đại chúng hữu hiệu nhất tại Việt Nam hiện nay, người ta có thể có những ấn tượng khác…
Phạm Hồng Sơn: Dĩ nhiên, có nhiều người vẫn hoàn toàn nhìn nhận vụ án CHHV theo những gì mà hệ thống truyền thông nhà nước phản ánh. Tôi từng gặp những người như thế. Phản ứng của tôi là chỉ nhẹ nhàng nói với họ rằng chúng ta nên “nghe hai tai” và phải thận trọng với những gì mà truyền thông nhà nước phổ biến.
Phạm Thị Hoài: Hôm diễn ra phiên tòa xử vụ CHHV, anh cũng bị bắt và tạm giam 9 ngày ở Hỏa Lò. Trở lại với nhà tù, cảm giác của anh thế nào?
Phạm Hồng Sơn: Sau gần mười năm mới trở lại một nhà tù, nhưng tôi vẫn thấy tình trạng quan hệ, giao tiếp kiểu chủ – nô giữa nhân viên trại giam và người tù hình sự, tình trạng cá lớn nuốt cá bé trong cộng đồng tù hình sự, y như tôi đã từng nghe trước đó. Đó cũng là những điều gây cho tôi suy nghĩ nhiều nhất sau chín ngày tù đó. Thân phận nói chung của người Việt Nam đã thật buồn, mỏng manh, nhưng cuộc đời của những người tù hình sự trong Hỏa Lò còn mỏng manh và thương tâm gấp bội. Tôi xin mở ngoặc thêm ở đây là tù hình sự ở Hỏa Lò phần lớn chỉ là những nghi can, những người về mặt pháp luật vẫn phải được coi là hoàn toàn vô tội. Về phần mình, chín ngày tù đó đã cho tôi những trải nghiệm rất quí giá. Thứ nhất, nó cho phép tôi kiểm định một số suy luận về hệ thống chính trị và xã hội hiện thời. Thứ hai, nó cũng giúp tôi xem lại khả năng chịu đựng của bản thân. Về điều thứ nhất, có một điều mừng là ngay trong hệ thống chính trị hiện tại cũng đã có nhiều cá nhân có thay đổi rất tích cực về tư duy chính trị và xã hội, họ đã gần như không còn cho rằng chỉ trích chính phủ hay phê phán Đảng Cộng sản Việt Nam là điều xấu hay nguy hiểm nữa, ở mức độ nào đó họ còn tỏ ra quan tâm, ủng hộ những người bất đồng chính kiến. Một nhân viên công an ngay trong Hỏa Lò đã nói riêng với tôi là anh ấy thường xuyên đọc những thông tin trên các trang mạng phi nhà nước nói về dân chủ, nhân quyền. Ban đầu tôi nghĩ là anh ấy nói ngoại giao và nhằm mục đích nào đó thôi, nhưng sau khi anh ấy nói về nhiều chi tiết và cả những cảm nghĩ (có cả đồng ý và không đồng ý) về nhiều bài thì tôi phải tin rằng anh ấy đã đọc một cách chủ động. Xin được nhấn mạnh rằng việc đọc như thế của một nhân viên công an trại giam là khác hẳn với việc đọc có tính chất công việc của các nhân viên an ninh. Một điều mừng khác nữa là những nghi can hình sự sống cùng với tôi trong chín ngày đó đã cho tôi hiểu thêm rằng nhiều người thuộc tầng lớp thấp của xã hội lại có những nhận xét về chính trị rất sắc sảo và triệt để.
Phạm Thị Hoài: Xin anh cho một ví dụ.
Phạm Hồng Sơn: Trong một lần trò chuyện, động chạm đến Hồ Chí Minh, một người tù thì cho rằng tình trạng bất công của xã hội hiện nay là do những người lãnh đạo hiện tại không có tài, có đức bằng Bác Hồ, thua xa Bác Hồ. Nhưng rất bất ngờ, một người tù khác, còn khá trẻ, vặc lại “thế ông tưởng thời Bác Hồ còn sống xã hội công bằng lắm à? Vừa đá bóng vừa thổi còi thì làm gì có công bằng mà mơ. Ông có đi xem bóng đá mà trọng tài lại làm tiền đạo không?” (Ở đây tôi đã lược bỏ tối đa những từ đệm của giới giang hồ.) Theo tôi, việc anh tù trẻ đó có một nhận xét chính xác như thế là do hai lý do chính. Thứ nhất, vì anh ta còn trẻ, lại thất học và có cuộc sống tự do giang hồ nên tư duy của anh ta không (hoặc ít) bị thâm nhiễm bởi những giáo dục có tính đầu độc của hệ thống giáo dục hiện tại, vì vậy khả năng nhìn nhận ra chân lý dễ hơn. Kant hay Osho đã cho rằng chính những kiến thức đã nằm trong đầu ta lại có thể cản trở cho việc nhận biết thực tại khách quan. Thứ hai, có thể vì tiếp cận được với những thông tin độc lập trên mạng nên anh ta đã biết được sự thật và hiểu được một nguyên nhân gốc rễ của bất công xã hội hiện nay.
Phạm Thị Hoài: Như vậy xã hội Việt Nam hiện nay thật sự có chỗ, và không phải chỗ quá chật, cho những người bất đồng chính kiến?
Phạm Hồng Sơn: Với trải nghiệm và quan sát riêng của bản thân, tôi có thể nói ngắn gọn rằng trong mười năm qua đã có một sự thay đổi theo chiều hướng tích cực trong nhận thức của xã hội và dư luận đối với những người bị nhà nước kết tội là “phản động”. Tuy nhiên, từ góc độ nghề nghiệp hay tầng lớp xã hội thì các thay đổi tích cực đó không thuần nhất hay tương đồng với sự cao thấp về tri thức hay gần gũi về quan hệ. Có những người đang nắm giữ chức vụ trong cơ quan nhà nước vẫn gần gũi và ủng hộ tôi, trong khi có những người làm việc ở khu vực không liên quan gì tới nhà nước lại tỏ ra tránh né. Hoặc có những người chưa bao giờ gặp lại quan tâm, chia sẻ hơn cả những người đã từng thân thiết hoặc thậm chí là họ hàng ruột thịt. Hoặc có người là đảng viên cộng sản, ở nông thôn, nhưng lại có suy nghĩ cởi mở về những người bất đồng chính kiến hơn nhiều trí thức ngoài đảng sống ngay ở thành phố. Dĩ nhiên, trong xã hội hiện nay, quan hệ với những người bất đồng chính kiến vẫn là một vấn đề. Ngay cả những người ủng hộ, có cảm tình, có thể vẫn có phần nghi kỵ, e ngại. Nhưng theo tôi, trong một xã hội đang có những hỏng hóc rất lớn về nền tảng thì các quan hệ xã hội tránh sao khỏi trục trặc. Ví dụ, theo những gì tôi quan sát, quan hệ giữa những người làm việc trong các công sở nhà nước đa phần chỉ có tính hình thức và khá lỏng lẻo. Mối quan hệ đó thường chỉ dựa trên những giá trị như ăn uống, du hý, kiếm tiền, ma chay, cưới hỏi, và bao trùm lên các quan hệ đó là các mưu tính, tranh chấp, ganh đua về quyền lực, quyền lợi bằng những cách không đàng hoàng.
Phạm Thị Hoài: Việc anh bày tỏ công khai quan điểm chính trị ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống hàng ngày của anh và gia đình?
Phạm Hồng Sơn: Đã từ lâu tôi thống nhất được với gia đình về quan điểm sống là sẵn sàng đón nhận một cách tích cực những gì nằm ngoài khả năng của mình. Ở Việt Nam hiện nay đâu cứ phải công khai quan điểm chính trị thì mới bị “ảnh hưởng”. Các em học sinh cấp I, II, III và tuyệt đại đa phần bố mẹ của các em có phát biểu gì về chính trị đâu, nhưng có ai trong chúng ta dám nói đời sống học sinh của các em là hạnh phúc, là không bị thiệt thòi? Những nông dân bị mất đất, những công chức có lương tâm, những nhà báo yêu sự thật cũng thế, đâu cần phải phát biểu chính trị mới bị “ảnh hưởng”. Những năm tháng tĩnh tâm ở trong tù trước đây đã cho tôi một ý nghĩ là con người không thể định đoạt được tất cả những bất trắc, nguy hiểm đang rình rập từng giờ, từng phút quanh ta, từ thiên nhiên hoặc từ chính con người, nhưng có một điều chúng ta có thể định đoạt được là chủ động chọn lấy một hướng đi. Nếu có những nguy hiểm, bất trắc, rủi ro xảy ra thì đó là những điều đỡ tẻ nhất, đỡ vô nghĩa nhất.
Phạm Thị Hoài: Anh có thấy mình cô đơn không?
Phạm Hồng Sơn: Theo tôi cô đơn là một khái niệm rất tương đối. Cô đơn thường bị gắn với số ít, với sự đơn độc. Nhưng cô đơn cũng còn là cảm giác, là nhận thức của chính bản thân con người. Người ta có thể hoàn toàn cảm thấy cô đơn, lạc lõng, tủi thân ngay giữa một lễ hội náo nhiệt, nhưng lại không thấy cô đơn khi phải sống nhiều năm một mình trong một không gian nhỏ xíu với 4 bức tường bao quanh. Có người chỉ vì thấy cô đơn, không ai ủng hộ, nên đành từ bỏ những ý nghĩ của riêng mình, hoặc tệ hơn lại đồng ý, thỏa hiệp với những người khác, thành ra đánh mất những suy nghĩ độc lập của mình. Hành động của Hữu Loan, cách đây nửa thế kỷ, một mình đi thẳng về quê đập đá, bỏ lại sau lưng ông tất cả mọi thứ ở nơi đô hội, trong đó có cả công trạng, quyền lợi, sự nhàn nhã mà ông đáng được hưởng, theo tôi có ý nghĩa với ông và với đời hơn rất nhiều những náo nhiệt, đông đúc, “đoàn kết” khác. Có lúc có những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam cảm thấy đơn độc hoặc mệt mỏi, thậm chí chán nản, hoặc có thể có những người tự nghĩ mình đang cô đơn, nhưng, theo tôi, về ý nghĩa sâu xa thì bất đồng chính kiến với người cầm quyền, với chính quyền không hề cô đơn vì bất đồng chính kiến đã có một nền tảng chung cho mọi con người, có một triết lý đúng đắn có tính phổ quát đã được thử thách qua hàng ngàn năm của nhân loại. Trong Đại Tượng truyện, một pho sách cổ của Trung Quốc có cách đây hơn hai ngàn năm, đã có quan điểm cho rằng không phải cứ đồng ý kiến, đồng một cách sống mới là tốt, mà dị (tức bất đồng) ý kiến, dị về cách sống cũng tốt và cần thiết, nhất là trong thời loạn, trong thời cái ác thống trị xã hội. Còn nếu nhìn vào các công ước quốc tế của thời nay liên quan tới nhân quyền, tới giá trị Người của con người thì việc có ý kiến khác biệt với bất kỳ ai cũng được coi là chuyện hết sức bình thường và không ai có quyền xâm phạm. Dĩ nhiên, những người bất đồng chính kiến ở Việt Nam hiện nay vẫn còn là số ít, vẫn gặp nhiều khó khăn. Trong con mắt của nhiều người và đôi khi trong con mắt của chính họ, họ là những kẻ dị biệt. Nhưng có điều mới nào thuở ban đầu không mang trong nó tính dị và có sự tiến bộ nào ngay khởi đầu đã to lớn, đã là số nhiều?
Phạm Thị Hoài: Phần lớn, ngay cả những người có cảm tình với giới bất đồng chính kiến tại Việt Nam, cho rằng thể chế chính trị Việt Nam chỉ có thể do chính Đảng Cộng sản thay đổi, không một lực lượng chính trị đối lập nào được coi là đáng kể để thực hiện nhiệm vụ này.
Phạm Hồng Sơn: Vâng, nếu giả thiết rằng quan điểm vừa nêu đã được phát biểu với một sự trung thực tuyệt đối thì quan điểm này cũng mang trong nó các lựa chọn, những quan niệm cần phải xét lại. Xin hỏi lại, thế nào là do “chính Đảng Cộng sản thay đổi”? Sự “thay đổi” do chính bản thân Đảng Cộng sản tự nhận thức hay do Đảng Cộng sản nhận thức thông qua những khuyến cáo, phân tích, đòi hỏi đến từ bên ngoài? Hay sự thay đổi mà Đảng Cộng sản không thể không thực hiện vì sức mạnh đòi hỏi thay đổi của xã hội, của toàn thể giới trí thức, của quảng đại quần chúng? Một cách khác, chúng ta sẽ ngồi chờ để Đảng Cộng sản thay đổi, hay sẽ làm điều gì đó để thúc đẩy Đảng Cộng sản phải thay đổi? Và những người có quan điểm vừa nêu liệu có mong đợi một sự tự thay đổi của Đảng Cộng sản theo chiều hướng chỉ nhằm tạo ra những hình thức mới mà vẫn giữ nguyên bản chất phi dân chủ như hiện nay? Hơn nữa, theo tôi quan niệm “cách mạng”, “thay đổi” hiểu theo nghĩa là những cuộc lật đổ bạo động trong chớp nhoáng và thay đổi hoàn toàn các cấu trúc chính trị, kinh tế, xã hội trong một thời gian ngắn, là những quan niệm đã lỗi thời và có tính chất nguy hiểm. Nhìn lại những thay đổi quan trọng của thế giới trong khoảng ba thập niên qua chúng ta có thể thấy những cuộc cách mạng thành công nhất đều có ba yếu tố tinh thần có tính nền tảng, đó là tinh thần ôn hòa (phi bạo lực), tinh thần chủ động đòi thực thi các nhân quyền cơ bản (các giá trị chung của con người) và tinh thần chấp nhận hy sinh đến cùng của những người theo đuổi những giá trị chung đó. Tôi đồng ý là sức mạnh của một lực lượng chính trị hay lực lượng xã hội có thể biểu hiện qua những yếu tố vật chất, hữu hình, như số người tham gia, phương tiện vật chất…, nhưng nền tảng sâu xa cho sức mạnh và tiềm năng của một lực lượng xã hội hay chính trị lại là các yếu tố phi vật chất như tính tiến bộ và tính phù hợp với khát khao chung của cộng đồng, xã hội hay rộng hơn là nhân loại. Và nếu nhìn kỹ hơn ta sẽ thấy, trước khi có những biểu hiện về sức mạnh vật chất thì đã phải có những chuẩn bị, chia sẻ, thống nhất về tinh thần, tư tưởng. Dĩ nhiên, vấn đề tổ chức, dù hiểu theo cách nào hoặc không muốn nói ra, cũng không thể thiếu để tạo nên sức mạnh thống nhất cho một lực lượng, một phong trào xã hội, nhưng chính vấn đề tổ chức cũng liên quan nhiều đến tư tưởng, tinh thần hơn là vật chất. Như vậy, quan điểm “không một lực lượng chính trị đối lập nào được coi là đáng kể để thực hiện nhiệm vụ (thay đổi chính trị) này” là quan điểm chỉ có thể đúng với góc nhìn rất hẹp và ngắn về thời gian. Còn dưới góc độ đạo đức thì tôi cho rằng đó là quan điểm sai hoàn toàn. Vì sao chúng ta lại vẫn đặt niềm tin, vẫn giao phó sự trông chờ vô điều kiện cho một đảng đã tự chứng minh là đã mắc những sai lầm trầm trọng trong chính sách phát triển và bảo vệ chủ quyền đất nước, đã gây ra nhiều mất mát, thương đau cho dân tộc? Mặc dù tôi không tin những người có quan điểm “phó thác” nói trên còn tin tuyệt đối vào Đảng Cộng sản. Nhưng nếu xuất phát điểm của những người muốn tiến bộ lại là một tinh thần trông chờ, phó thác cho Đảng Cộng sản thì ngay cả trong trường hợp Đảng Cộng sản có muốn thay đổi theo chiều hướng dân chủ thật (hiện nay giả thiết này là một viễn viễn tưởng) thì họ cũng sẽ thôi.
Phạm Thị Hoài: Chủ nghĩa phó thác này có những nguyên cớ của nó…
Phạm Hồng Sơn: Đúng, nhưng theo tôi, nó nguy hiểm. Nó không chỉ khó có thể mua được lòng tin, sự thành ý lắng nghe của nhà cầm quyền độc tài mà còn làm một bộ phận lớn trong xã hội, những người ít có thói quen hay điều kiện để tìm hiểu kỹ về chính trị, vẫn hy vọng, trông ngóng, trông chờ sự tự thay đổi (theo hướng tiến bộ) của Đảng CSVN. Mà một xã hội trong đó người dân không có tinh thần tự lập, không biết chủ động trong các vấn đề xã hội, chính trị thì xã hội ấy vẫn là mảnh đất màu mỡ cho độc tài, mị dân, phi dân chủ. Hơn nữa, tất cả những gì diễn ra từ các cuộc Cách mạng ở Tây Âu và ở Mỹ trong thế kỷ 17, 18 cho đến nay đều cho thấy, những cái đầu luôn bị tù hãm trong những cái vỏ dai cứng của tự đại, tự huyễn của các nhà độc tài chỉ có thể được đột phá, khai mở bằng một ý chí cứng rắn khác.
Phạm Thị Hoài: Vậy vai trò của những người bất đồng chính kiến tại Việt Nam trong bối cảnh này là gì? Họ có một cơ hội nào để quy tụ thành một phong trào đối lập không?
Phạm Hồng Sơn: Thật là một câu hỏi khó. Tôi cho rằng tất cả những người bất đồng chính kiến đều tin rằng việc làm của họ ít nhất cũng giúp cho việc khẳng định lại rằng Con Người không phải là một loài động vật chỉ cần tồn tại hay chỉ mong muốn cho riêng bản thân họ. Vế sau trong câu hỏi của chị làm tôi nhớ đến hai câu cách ngôn và hai câu chuyện cổ. Hai câu cách ngôn là “Cơ hội không bao giờ tự trên trời rơi xuống” và “Người ta thành công chỉ vì người ta đã tin rằng người ta sẽ thành công”. Hai câu chuyện cổ là “Cô bé quàng khăn đỏ“ và “Bó đũa“.
Phạm Thị Hoài: Các lực lượng đối lập, ở đâu và thời nào cũng vậy, bao giờ cũng gồm nhiều khuynh hướng từ khác nhau đến khác xa nhau. Một trong các khuynh hướng đáng chú ý tại Việt Nam là đối lập trung thành. Anh đánh giá lực lượng này như thế nào?
Phạm Hồng Sơn: Một cách sơ bộ, lực lượng này đang chiếm số đông và có sức thu hút dư luận lớn so với các lực lượng khác và cũng đang lớn mạnh hơn so với chính họ. Trong lực lượng này có những người tài năng và lương thiện và cũng có một vài dấu hiệu cho thấy có người đang trở thành ít “trung thành” hơn. Nhưng đáng tiếc cũng có những người tài năng và cơ hội. Bản thân người phương Đông đã kín đáo, lại phải sống lâu trong một chế độ toàn trị cộng sản thì sự kín đáo sẽ còn lớn hơn nữa. Do đó lực lượng đối lập trung thành ở Việt Nam – những người phê phán Đảng Cộng sản, phản biện các chính sách của nhà nước nhưng vẫn bảo vệ tính nhất thống của Đảng hay chỉ dựa trên các nguyên tắc của Đảng – vẫn là một ẩn số.
Phạm Thị Hoài: Những người bất đồng chính kiến tất nhiên quan tâm đến những sai lầm của nhà cầm quyền. Còn những sai lầm, những căn bệnh của chính họ thì sao?
Phạm Hồng Sơn: Tôi không thể đưa ra những chẩn đoán có tính toàn diện và chi tiết vì muốn vậy tối thiểu cần phải có một cuộc khám nghiệm tổng quát với nhiều phương tiện và nhân lực và, theo ngôn ngữ y tế, có thể cần cả những cuộc “hội chẩn”. Theo tôi những người bất đồng chính kiến Việt Nam, có cả bản thân tôi, dù ít hay nhiều, đều mang trong mình những căn bệnh của thời đại, của môi trường (chính trị, văn hóa, lịch sử, truyền thống…) mà họ đang sống. Ở đây tôi chỉ muốn nêu ra vài điểm. Thứ nhất chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ về tiêu dùng vật chất (material consumption) và các phương tiện truyền thông, rất hấp dẫn và mạnh mẽ, dễ làm con người rơi vào những ngộ nhận, lừa gạt, cạm bẫy, chỉ hướng đến hình thức và tính ngắn hạn hơn là nền tảng và dài hạn. Thứ hai, môi trường xã hội của Việt Nam còn rất thiếu tính khoan dung, độ lượng với những sự khác biệt. Đặc điểm này không chỉ là đặc tính của một chính quyền độc đoán, độc tài mà còn là đặc tính của dân chúng (gồm cả những người bất đồng chính kiến) phải sống lâu dưới các chế độ quân chủ chuyên chế, chuyên chính cộng sản hay thần quyền. Thứ ba, truyền thống của tầng lớp sĩ phu và trí thức Việt Nam từ trước đến nay là gần như đều không quan tâm đến chính trị nói chung và khoa học chính trị nói riêng. Ở đây tôi không đề cập đến nguyên nhân, nhưng nếu tầng lớp có học nhất của một quốc gia lại không quan tâm đến chính trị hay coi khinh chính trị là xấu, là công việc của những kẻ đầy thủ đoạn nên tránh xa, không tìm hiểu các qui luật, các kỹ thuật, các điểm hay dở, tốt xấu của các mô hình chính trị cũng như các “thủ đoạn” cầm quyền thì quốc gia sẽ không thể có được một chế độ chính trị đúng đắn, tốt đẹp. Vì giới có học, người tử tế còn không hiểu về chính trị, không muốn can dự vào chính trị thì đại chúng làm sao có thể không bị lôi kéo bởi những lực lượng chính trị hắc ám, những thủ đoạn mỵ dân, lừa gạt của quyền lực độc đoán. Mà một khi chế độ chính trị đã không đúng đắn thì mọi mặt khác của xã hội cũng sẽ không thể đúng đắn và tốt đẹp được. Ngoài ra, theo quan điểm của tôi, những người bất đồng chính kiến hiện nay cũng có thể nhìn lại ngay những người cộng sản Việt Nam tiền bối, trước năm 1945 chính họ cũng là những người bất đồng chính kiến, để tránh một số căn bệnh và học được những phẩm chất tốt đẹp. Và một khi đã có ý thức để tìm hiểu, xác định những căn bệnh, điểm yếu của mình một cách nghiêm túc thì chắc chắn những người bất đồng chính kiến sẽ biết cách để vượt qua được chúng.
Phạm Thị Hoài: Xin anh thử nêu ngắn gọn những sở trường và sở đoản của những người cộng sản Việt Nam tiền bối.
Phạm Hồng Sơn: Một số căn bệnh lớn của những người cộng sản tiền bối tôi cho cần phải chú ý là: thiếu tính hệ thống trong cách nhìn về sự vật hiện tượng; thiếu quan niệm tiến bộ về độc lập, tự do; rất thiếu lòng khoan dung với sự khác biệt chính kiến; coi nhẹ lợi ích xã hội, quốc gia khi quyền lợi của bản thân, phe nhóm gặp thách thức. Những phẩm chất đáng học ở họ là: sự nghiêm túc trong lối sống; tinh thần kỷ luật nghiêm; khả năng chịu đựng, hy sinh cao; sự gắn bó, gần gũi với đại chúng.
Phạm Thị Hoài: Cảm ơn anh Phạm Hồng Sơn.
06.01.2012
© 2012 pro&contra

2 phản hồi

  1. Lâu rồi mới đọc được một bài hay của a Sơn. Cảm ơn chị Hoài rất nhiều. Những suy nghĩ của anh Sơn hay và đúng. Anh không bị sự “cô đơn” giết chết, mà mỗi ngày suy nghĩ và niềm tin của anh hun đúc thếm chí khí tranh đấu. Chỉ xin hỏi anh Sơn một câu, tuổi trê, thanh niên và sinh viên suy nghĩ như thế nào với hiện trạng của đất nước? Năm mới xin chúc anh Sơn cùng gia đình bình an và hạnh phúc. Mong rằng năm Rồng, Đất Nước sẽ đổi thay.

  2. DANH SÁCH 1000 NGƯỜI ĐỀ NGHỊ TUYÊN DƯƠNG.
    TS CÙ HUY HÀ VŨ VÀ THÂN HỮU
    STT Họ và Tên Nghề nghiệp Nơi cư trú
    1 GS Nguyễn Huệ Chi Nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Văn học, Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam Hà Nội
    2 Phạm Toàn Dạy học, viết văn, dịch sách Hà Nội
    3 GS TS Nguyễn Thế Hùng Giảng dạy tại Trường Đại học Bách khoa, Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam Đà Nẵng
    4 GS Hoàng Tụy Nguyên Chủ nhiệm Khoa Toán Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, nguyên Viện trưởng Viện Toán học Việt Nam Hà Nội
    5 Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh Nguyên UVTƯ Đảng, nguyên Phó Chủ nhiệm T.C.C.T. Hà Nội
    6 Trung tướng Lê Hữu Đức Nguyên Phó tư lệnh QK, nguyên Cục trưởng Cục tác chiến – Bộ T. T.M., 65 tuổi Đảng, 51 tuổi quân, 88 tuổi đời. Hà Nội
    7 Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh Lão thành cách mạng, nguyên UVTƯ Đảng, nguyên Chính ủy QK IV, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc. Hà Nội
    8 Thiếu tướng Trần Minh Đức Cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên Phó tư lệnh Quân khu Trị Thiên, Phó Viện trưởng học viện hậu cần. Hà Nội
    9 Thiếu tướngTô Thuận Cán bộ tiền khởi nghĩa, nguyên Phó tư lệnh -Tham mưu trưởng pháo binh. Hà Nội
    10 Thiếu tướng Bùi Quỳ Nguyên Phó Tư lệnh Tăng thiết giáp Hà Nội
    11 Đại tá Trần Bá CCB, 85 tuổi đời, 64 tuổi Đảng, 46 năm tuổi quân Hà Nội
    12 Đại tá Lê Văn Trọng Chiến sĩ tù đày Hà Nội
    13 Đại tá Phạm Văn Hiện Lão thành cách mạng. Hà Nội
    14 Đại tá Nguyễn Văn Tuyến Cán bộ tiền khởi nghĩa, 64 tuổi Đảng. Hà Nội
    15 Đại tá Trần Nguyên Cán bộ tiền khởi nghĩa. Hà Nội
    16 Đại tá Nguyễn Huy Văn (Kim Sơn) Chiến sĩ Việt Nam Giải phóng quân. Hà Nội
    17 Đại tá Lê Mai Anh CCB, luật gia VN, nguyên cán bộ TƯ Đoàn, cán bộ CP 25TƯ, CB Viện KS Tối cao, hơn 50 tuổi Đảng. Hà Nội
    18 Đại tá Trần Thế Dương Nguyên Chủ nhiệm Pháo binh Quân khu Thủ đô. Hà Nội
    19 Đại tá Trần Dinh Nguyên Phó chủ nhiệm chính trị. Hà Nội
    20 Đại tá Phạm Xuân Phương CCB, 63 tuổi Đảng, 82 tuổi đời Hà Nội
    21 Đại tá Phạm Hiện CCB, Lão thành CM tiền khởi nghĩa Hà Nội
    22 Vũ Thuần Cán bộ lão thành cách mạng, Huân chương Độc lập hạng 3 Hà Nội
    23 Lê Hữu Hà 64 tuổi Đảng, Tư lệnh chiến dịch Tây Bắc. Hà Nội
    24 Nguyễn Văn Bé Cán bộ lão thành CM tiền khởi nghĩa, tiền bối CA Khánh Hòa, Chiến sĩ 23-10, mặt trận Nha Trang, 65 năm tuổi Đảng, 86 tuổi đời Nha Trang
    25 Nguyễn Thị Cương Cán bộ tiền khởi nghĩa. Huân chương Độc lập hạng Ba, 64 năm tuổi Đảng. Hà Nội
    26 Trần Bá Cưu chiến binh Nam tiến, 64 tuổi Đảng, 46 tuổi quân, 85 tuổi đời Hà Nội
    27 Trần Đức Quế Chuyên viên vận tải, nghỉ hưu, tham gia làm giao liên thời chống Pháp tại vùng địch chiến Hà Nội, Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Hà Nội
    28 PGS TS Hoàng Dũng Trường đại học Sư phạm TP HCM TP HCM
    29 TS Phan Thị Hoàng Oanh Giảng viên Trường đại học Sư phạm TP HCM TP HCM
    30 TS Nguyễn Đình Nguyên BS, Tiến sĩ Y khoa, Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney Úc Úc
    31 BS Nguyễn Đắc Diên Bác sĩ nha khoa TP HCM
    32 TS Đặng Thị Hảo Viện văn học Hà Nội
    33 KS Nguyễn Văn Thàn Kỹ sư xây dựng Hà Nội
    34 GS Nguyễn Văn Tuấn Chuyên khoa xương, Đại học New South Wales, Sydney, Australia Úc
    35 Lê Hiếu Đằng Luật gia, nguyên Phó Tổng Thư ký UB TƯ Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình VN, nguyên Phó Chủ tịch MTTQVN TP HCM. Hiện là Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc UBTƯ Mặt trận Tổ quốc VN TP HCM
    36 TS Nguyễn Quang A Hà Nội
    37 PGS Vũ Trọng Khải TP HCM
    38 GS Đỗ Đăng Giu Chuyên ngành Vật lý, Cựu Giám Đốc Nghiên Cứu CNRS, Đại học Paris-Sud, Pháp. Pháp
    39 GS Phạm Xuân Yêm Nguyên Giám đốc Nghiên cứu CNRS va Đại học Pierre et Marie Curie, Paris Pháp
    40 Hoàng Hưng Nhà thơ, nguyên Trưởng ban Văn hóa báo Lao động TP HCM
    41 Trần Hoài Dương Nhà văn TP HCM
    42 Nguyên Ngọc Nhà văn Hà Nội
    43 Phạm Duy Tương Nhà báo Cần Thơ
    44 Bùi Minh Quốc Nhà thơ, nguyên Chủ tịch Hội Văn Nghệ tỉnh Lâm Đồng Đà Lạt
    45 Ðoàn Nhật Hồng Cán bộ tiền khởi nghĩa, huân chương Độc lập hạng Nhì, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục Lâm đồng, TP Ðà Lạt Đà Lạt
    46 Huỳnh Nhật Hải Cựu Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP Đà Lạt, Đà Lạt
    47 Huỳnh Nhật Tấn Cựu Phó giám đốc Trường Đảng tỉnh Lâm Đồng Đà Lạt
    48 Trần minh Thảo Công dân Việt nam Đà Lạt
    49 Tiêu Dao Bảo Cự Nhà văn tự do Đà Lạt
    50 Hồ Du Cán bộ tiền khởi nghĩa, 60 tuổi đảng, nguyên Chánh thanh tra nhà nước, TP Ðà Lạt Đà Lạt
    51 Nguyễn Trọng Tạo Nhà thơ, Nhạc sĩ, Nhà báo Hà Nội
    52 NSND Trần Văn Thủy Đạo diễn điện ảnh Hà Nội
    53 Nguyễn Hồng Việt Giám đốc công ty tư vấn TP HCM
    54 TS Vũ Quang Việt nguyên Chuyên gia cấp cao của Liên Hợp Quốc. USA
    55 TS Nguyễn Tiến Dũng Hà Nội
    56 Dr. Vu Trieu Minh Asso. Prof. Malaysia
    57 Nguyễn Thị Mười Cán bộ về hưu TP HCM
    58 J. Nguyễn Thái Sơn Ngoại giao Việt Pháp; Cố vấn Viện Hàn lâm Địa Chính trị, Paris Pháp
    59 Phạm Tiến Công Financial Investment Analyst Hà Nội
    60 TSKH Vũ Hải Long Viện Năng lượng Nguyên tử VN TP HCM
    61 Trần Xuân Nam Nguyên Trưởng khoa VTĐ Trường ĐH Bưu điện Hà Nội
    62 Nguyễn Bá Chung Nghiên cứu văn học, dịch giả, Trường đại học Massachusetts Boston, Massachusetts, USA USA
    63 GS Ngô Vĩnh Long Khoa Sử Đại Học bang Maine USA
    64 Thái Văn Cầu Khoa học gia tại cơ quan Nasa USA
    65 Trần Nhương Nhà văn, Nhà báo, họa sĩ Hà Nội
    66 Nguyễn Hồng Khoái Chuyên viên Tư vấn Tài chính, Hội viên CLB Kế toán trưởng toàn quốc, Hội viên Hội Tư vấn Thuế Việt Nam Hà Nội
    67 Pham Văn Sinh viên Trường ĐH Massachusetts Institute of Technology (MIT) USA
    68 Khương Việt Hà Nghiên cứu viên Viện Văn học trực thuộc Viện ?Khoa học Xã hội việt Nam Hà Nội
    69 GS Lê Xuân Khoa Giáo sư đại học hồi hưu, nguyên Chủ tịch Trung tâm Tác vụ Đông Nam Á ở Washington DC USA
    70 Nguyễn Ngọc Giao Dạy hoc, làm báo, thông dịch Pháp
    71 TS Đỗ Xuân Thọ Ngành Cơ học Ứng dụng. Công tác tại Viện
    Khoa học và Công nghệ Bộ GTVT Hà Nội
    72 Nguyễn Thái Linh luật gia, dịch giả Balan
    73 LS Bùi Trần Đăng Khoa Luật sư TP HCM
    74 Hà Văn Thùy Nhà nghiên cứu văn hóa học TP HCM
    75 TS Âu Dương Thệ Hiệp hội Dân chủ và Phát triển VN
    76 TS Lê Văn Ngành Vật lý, giảng dạy tại ĐHSP Hà Nội, đã nghỉ hưu TP HCM
    77 Trẩn Thị Thu Nhân viên Phòng Giáo dục Đống Đa HN, đã nghỉ hưu TP HCM
    78 BS Đinh Văn Hương Bác sĩ y khoa Vũng Tàu
    79 Vũ Vân Sơn Phiên dịch và biên dịch cho Tòa án và công chứng bang Berlin Germany
    80 KS Đặng Đức Hiếu Kỹ sư tin học Germany
    81 KS Đặng Đức Nghĩa Kỹ sư tin học Germany
    82 Phan Hữu Trọng Hiền Nghiên cứu sinh ngành Khoa học máy tính, Đại học LaTrobe, Úc Úc
    83 Nguyễn Gia Hảo Chuyên gia Tư vấn độc lập Hà Nội
    84 KS Đinh Hữu Tùng Giám đốc CABLE-LAN SA tại Vương quốc Bỉ. Bỉ
    85 KS Nguyen Chi Cong Kỹ sư điện TP HCM
    86 KS Nguyễn Xuân Thọ Kỹ sư truyền thông USA
    87 BS Nguyễn Trọng Hoàng Bác sĩ y khoa Pháp
    88 KS Vũ Hải Hồng Kỹ sư tin học Pháp
    89 Đỗ Thành Long Giáo viên TP HCM
    90 Hà Dương Tường Nguyên Giáo sư Đại học Compiègne (Pháp) Pháp
    91 Nguyễn Thượng Long Dạy hoc, viết báo Hà Nội
    92 Mai Minh Tiến Giáo Viên TP.HCM
    93 KS Trần Minh Khôi Kỹ sư tin học Germany
    94 Cao Duy Thảo Nhà văn Nha Trang
    95 Tống Sơn Lương Giáo viên Vật lý Trường cao đẳng Sư phạm Nam Định, đã nghỉ hưu Nam Định
    96 KS Lương Ngọc Châu Kỹ sư điện toán Germany
    97 Dương Tường nhà thơ, dịch giả Hà Nội
    98 Thanh Thảo Nhà thơ, nhà báo
    99 Bùi Ngọc Tấn Nhà văn Hải Phòng
    100 Nguyễn Cảnh Hoàn Cử nhân hóa, nguyên Đội trưởng hợp tác lao động thời Đông Đức, nguyên Chủ tịch Hội người Việt vùng Mansfeld-Südharz , bang Sachsen – Anhalt C. H. L. B. Đức. Germany
    101 TS Hà Sĩ Phu TS sinh học Đà Lạt
    102 Đặng thị Thanh Biên Cán bộ hưu trí Đà Lạt
    103 KTS Trần Thanh Vân Hà Nội
    104 BS Đào Xuân Dũng Bác sĩ y khoa, đã nghỉ hưu Hà Nội
    105 Nguyễn văn Tao Giám đốc hãng SARTECH Pháp
    106 KS Nguyễn Khắc Đình Lộc Vũng Tàu
    107 TS Nguyễn Hữu Úy TS hóa công nghiệp, VP Valensa International USA
    108 Nguyễn Thị Thu Hà Nội trợ USA
    109 Nguyễn Đức Hiệp Nhà khoa học khí quyển, Bộ Môi trường tiểu bang New South Wales Úc
    110 Lê Phú Khải Nhà báo, nguyên PV thường trú Đài TNVN tại Đồng bằng sông Cửu Long TP HCM
    111 Cao Quang Nghiệp Giảng viên đại học Hamburg Germany
    112 Tạ Duy Anh Nhà văn, Nhà xuất bản Hội nhà văn Hà Nội
    113 Song Chi Đạo diễn phim, nhà báo tự do Na Uy
    114 Ha Duong Duc MBA USA
    115 KS Hoàng Thu Kỹ sư Luyện kim, Nhà giáo dạy nghề, Nguyên sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ đội Cụ Hồ. Germany
    116 Nguyễn-Khoa Thái Anh Nhà giáo USA
    117 Tưởng Năng Tiến Công nhân USA
    118 Võ Văn Rân Hưu trí USA
    119 PGS TS Ngô Đức Thọ Hán Nôm học, Viện NC Hán Nôm, đã nghỉ hưu. Hà Nội
    120 ThS Nguyễn Xuân Nguyên Giảng Viên khoa Viễn Thông-Công nghệ Thông tin, Trường CĐ Điện lực TP HCM. TP HCM
    121 Nhật Tuấn Nhà văn TP HCM
    122 Văn Công Quang Automechanic USA
    123 Vu Thu Hoa Germany
    124 KS Nguyễn Văn Hòa Kỹ sư năng lượng Germany
    125 BS Tran cong Thang Bác sĩ y khoa Nauy
    126 KS Nguyễn Văn Duy Kiêm Cử nhân khoa học, dạy học, viết văn, chơi bridge Ba Lan
    127 TS Phạm Hải Vũ Nghiên cứu sinh sau Tiến sỹ, chuyên ngành Luật -kinh tế công cộng, Đại học Paris Dauphine Pháp
    128 Phạm Phú Trí Hoạ sĩ TP HCM
    129 Nguyễn Thế Phương ĐH McGill, Montreal, Canada Canada
    130 Phan Phương Công nhân USA
    131 PGS TS Bùi Mạnh Hùng Công tác tại Trường đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh TP HCM
    132 Nguyễn Phi Hùng Giáo viên Toán Trường THPT Trần Quốc Tuấn, kiêm viết tự do dưới bút danh Phùng Hi Phú Yên
    133 KS Vũ Văn Cương Kỹ sư điện Germany
    134 Nguyễn Trung Thuần Nhà nghiên cứu, dịch giả Hà Nội
    135 Nguyễn Đỗ nhà thơ, dịch giả USA
    136 Hàn Quang Vinh Cử nhân CNTT Hà Nội
    137 Nguyễn Ngọc Như Quỳnh Điều hành du lịch Nha Trang
    138 Lý Trọng Phúc Cử nhân luật, Trưởng phòng Tổ chức hành chính Công ty cổ phần cơ khí Vina Nha Trang Nha Trang
    139 Ngô Anh Văn nghiên cứu sinh Vật Lý tại Đại Học Nam California (USC) USA
    140 Trương Thọ Cán bộ nghỉ hưu Canada
    141 Trương Minh Tịnh Giám đốc Công ty Tithaco Pty. LTD Úc
    142 Nguyễn Văn Chính Nhà báo, nhạc sỹ Nha Trang
    143 Trịnh Lữ Dịch giả Hà Nội
    144 PGS TS Hoàng Xuân Huấn Công tác tai Khoa Công nghệ thông tin,
    Trường đại học Công nghệ, Đại học quốc gia Hà Nội Hà Nội
    145 KS Nguyễn Như Hùng Kỹ sư Cơ khí, Phòng Bảo trì Cty Fujikura Fiber Optics Vietnam TP HCM
    146 PGS TS Vũ Khắc Lương Đại học Y Hà Nội Hà Nội
    147 Nguyễn Văn Tạc Giáo học hưu trí Hà Nội
    148 Phạm gia Khánh Cán bộ hưu trí TP.HCM
    149 KS Uông Đình Đức Kỹ sư cơ khí chế tạo máy, đã nghỉ hưu TP HCM
    150 Lê Xuân Tấn Float Glass Technology Engineer. Huế
    151 Trương Minh Quý Sinh viên lớp Đạo diễn điện ảnh Trường đại học Sân khấu Điện ảnh TP HCM Daklak
    152 Nguyễn Quang Đạo Cựu chiến binh Hà Nội
    153 Tuấn Ngô Nhân viên Công ty Kroger USA
    154 Quảng Trọng Nhân Nhân viên TP HCM
    155 KS Nguyễn Tiến Đức Công trình Cảng Đường thủy TP HCM
    156 Lâm Hoàng Mạnh Hưu trí Anh
    157 Nguyễn Thanh Ý Cán bộ Thư viện, đã nghỉ hưu Bắc Giang
    158 KS Nguyễn Đình Khoa Vought Aircraft Industries USA
    159 Phạm Mạnh Hùng Thợ máy USA
    160 Vũ Quang Chính Nhà lý luận phê bình phim
    161 KS Nguyến Trường Thọ Kỹ sư điện, điện tử Hà Nội
    162 KS Lưu Quý Định Germany
    163 Günter Lober Giám đốc công ty tư vấn nhà cửa ở München CHLB Đức Germany
    164 Peter Altschäftl Phó GĐ Cty tư vấn nhà cửa ở München CHLB Đức Germany
    165 Nguyễn Sỹ Kiệt Cán bộ, đã nghỉ hưu TP HCM
    166 Đỗ Minh Tuấn Nhà thơ, Đạo diễn, Hãng phim truyện Việt Nam Hà Nội
    167 Nguyễn Hồng Long Giảng viên chính Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, TT Đại học HN Hà Nội
    168 Nguyễn Cường Kinh doanh CH SEC
    169 TS Le Viet Binh Hóa học, đã về hưu, nguyên Giám đốc Xưởng Nghiên cứu thực nghiệm Công ty Hóa chất cơ bản miền Nam. TP HCM
    170 Phan Tấn Hải Nhà văn USA
    171 Trần Thị Trường Nhà văn Hà Nội
    172 Nguyen Kim Cuong Giảng viên, Đại học Y Hà Nội Hà Nội
    173 Bùi Việt Hà Công ty Công nghệ Tin học Nhà trường Hà Nội
    174 KS Nguyễn Quốc Kỹ sư cơ khí, hệ điều khiển điện lạnh công thương nghiệp USA
    175 Trần Minh Trường bút danh là Hồ Gươm, BTV trang Dân luận Germany
    176 Bùi Xuân Bách Giáo viên nghỉ hưu USA
    177 TS Ðặng Văn Ba Nguyên Giám đốc Bộ Tin học, tổ chức Quốc tế viễn thông (I.T.U) Geneva, Thụy Sĩ Thụy Sỹ
    178 KS Phan Hoàng Việt Kỹ sư phần mềm máy tính (Công ty TNHH Somotsoft, 46 Lê Tấn Quốc, Tân Bình, TP HCM) TP HCM
    179 Bùi Như Hương Phê bình Mỹ thuật Hà Nội
    180 BS Võ Văn Cần Bác sĩ y khoa Canada
    181 Hà Văn Thịnh Khoa Sử, Đại học Khoa học Huế Huế
    182 Dương Khánh Phương Sáng tác văn học, nghệ thuật tự do
    183 Nguyễn Công Huân Hiện đang làm nghiên cứu tại Trường đại học Aalborg, Đan Mạch Đan Mạch
    184 Vu Hai Long
    185 PGS Phạm Quang Tuấn Đại học University of New South Wales Úc
    186 KS Nguyễn Thế Dũng Kỹ sư tin học Áo
    187 Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh Linh mục Công giáo TP HCM
    188 TS Đặng Đình Thi Chuyên ngành Cơ học Vật liệu Hải Dương
    189 Trần Mỹ Phương Lập trình viên TP HCM
    190 Nguyễn Quang Minh Chuyên gia kinh tế dầu khí Na Uy
    191 Nguyễn Thanh Cường TP HCM
    192 BS Nguyễn Ngọc Bá Bệnh viện da liễu TP Hồ Chí Minh TP HCM
    193 Dao Nguyen Ngoc Kinh doanh ăn uống Germany
    194 Pham Huu Uyen IT CH SEC
    195 Nguyễn Hữu Chuyên Giáo viên Thái Bình
    196 Mai Văn Tuệ Phó Viện trưởng Viện NC Điện tử, Tin học, Tự động hoá – Bộ Công thương Hà Nội
    197 BS Phan Thế Vấn Bác sĩ y khoa TP HCM
    198 TS Nguyễn Văn Nghi Chuyên ngành Sinh học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam Hà Nội
    199 Nguyễn Kim Luyến Nhân viên điện toán Bỉ
    200 Vũ Thị Bích Nghỉ hưu Pháp
    201 Nguyễn Quốc Vũ Programmer CH SEC
    202 KS Lê Minh Đường Kỹ sư cơ khí, Cử nhân QTKD TP HCM
    203 Trần Ngọc Thành Thợ phay, tiện CNC Germany
    204 KS Phạm Thái Bình Kỹ sư kinh tế lâm nghiệp, Giám đốc Công ty cổ phần sàn đẹp Hồng Ngọc Hà Nội
    205 Phan Trọng Khang Thương binh chống Mỹ loại A, hạng 2/4- DNTN Hà Trang Hà Nội
    206 Nguyễn Bắc Truyển TP HCM
    207 Phạm Kỳ Đăng Làm thơ, Dịch thuật Germany
    208 Ngô Thị Hồng Lâm Vũng Tàu
    209 PGS TS Phạm Vĩnh Cư Viện Văn học, nguyên Hiệu phó Trường viết văn Nguyễn Du Hà Nội
    210 PGS TS Trương Đăng Dung Nguyên Phó Viện Trưởng Viện Văn học, nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Văn học, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam Hà Nội
    211 PGS TS La Khắc Hòa Khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội 1 Hà Nội
    212 PGS TS Đỗ Lai Thúy Nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội
    213 TS Nguyễn Đức Mậu Viện Văn học Hà Nội
    214 TS Nguyễn Thị Như Nguyện Đại học Hà Nội Hà Nội
    215 LS Nguyễn Trọng Cử Hà Nội
    216 PGS TS Phan Văn Hiến Trường đại học Mỏ-Địa chất, đã nghỉ hưu Hà Nội
    217 BS Nguyễn Mỹ Trung Bác sĩ y khoa USA
    218 Bùi Khôi Hùng Cán bộ về hưu Hà Nội
    219 GS Trần Văn Thọ Khoa kinh tế, Đại học Waseda, Tokyo Nhật Bản
    220 Trần Trọng Vũ Nghệ sĩ thị giác Pháp
    221 Đoàn Ánh Thuận Nhà văn Pháp
    222 KS Lê Thành Chung Kỹ sư tin học, hiện làm việc tại Ngân hàng Tiểu bang Berlin (Landesbank Berlin AG) Germany
    223 Phạm Trần Trung Hải Biomedical Laboratory Science Na Uy
    224 Phạm Như Hiển Giáo viên Toán, THPT Bắc Kiến Xương, Thái Bình Thái Bình
    225 TS Trần Quốc Hải Ngành Địa chất Hà Nội
    226 Nguyễn Phạm Điền Ngiên cứu sử Việt Úc
    227 Nguyễn Thị Trung Kiên Nội trợ Hà Nam
    228 Nguyễn Kim Sơn Chuyên viên kỹ thuật hưu trí, nguyên Giáo sư trường Đại học Huế, Phó giám đốc trường Sư Phạm Kỹ thuật Phú Thọ Sài Gòn (1964-1965), tứ 1976 -1980 Trưởng phòng Thiét kế Trung tâm Nghiên cứu sản xuất thử TP HCM thuôc Ban KHKT thành phố, từ 1981-2000 chuyên viên khoa học kỹ thuật Trung tâm nghiên cưú nguyên tử của CHLB Đức (nay là Forschungzentrum Juelich) Germany
    229 Lê Minh Hùng Công dân Việt Nam Bạc Liêu
    230 Nguyễn Thu Nguyệt Hưu trí, nguyên giảng viên đại học TP HCM
    231 Phạm Đình Lộc Educator, retired (high school & college) USA
    232 Phan Nguyên Canada
    233 Giang Nguyen Nghien cuu vien, Khoa Xay Dung, DH Sydney, Uc Úc
    234 Đinh Đăng Định Giáo viên trường THPT Lê Quý Đôn, Tuy Đức, Daknong Dak Nong
    235 Trịnh Việt Anh Lái xe Hà Nội
    236 Lê Đình Phan Sinh Học sinh tại Trường Goldenwest College USA
    237 Nguyễn Thế Anh Sinh viên Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Hà Nội
    238 Nguyễn Hà Nhiên Đại diện thương mại TP HCM
    239 Đinh Quốc Huy BBT báo online binhgia.net Vũng Tàu
    240 Lê Thanh Hiệp Gedeon Richter Plc TP HCM
    241 Nguyễn Viết Lầu Giảng viên Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội Hà Nội
    242 Tôn Nữ Tường Vy Công nhân sản xuất
    243 Lê Xuân Lộc Linh mục Dòng Chúa Cứu thế Việt Nam TP HCM
    244 Huỳnh Công Thuận Vĩnh Long
    245 KS Nguyen Van Binh Kỹ sư cơ khí TP HCM
    246 Nguyễn Quốc Bình Phó giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn Kỹ thuật Môi trường (Encor) TP HCM
    247 Nguyễn văn Sơn USA
    248 Lê Hoàng Lan Cán bộ về hưu Hà Nội
    249 Phan-Bá Phi Cao học Tin học, Chuyên viên thượng hạng, cựu sinh viên Viện Đại học Đà Lạt USA
    250 Nông Hùng Anh Sinh viên Lạng Sơn
    251 Dr. Frédéric Dong Nguyen Nguyên nhân viên Tổng Lãnh sự quán Pháp tại Việt Nam Pháp
    252 Phạm Tư Thanh Thiện Nhà báo về hưu Pháp
    253 Nguyễn Trung Bảo Nhà báo Đà Nẵng
    254 Nguyễn Thanh Phong Giảng viên đại học, Du học sinh Việt Nam tại Đài Loan Đài Loan
    255 KS Trương Thế Kỷ Kỹ sư cơ khí, Xí nghiệp Auto BMW Germany
    256 Bùi Hồng Mạnh Cử nhân hóa học, đã nghỉ hưu. Germany
    257 Lê Thụy Minh Thư Sinh viên USA
    258 PhD Do Ba Thanh PhD in Materials Science and Engineering
    University of Michigan USA
    259 Professor Nora Taylor School of the Art Institute of Chicago, 112 S. Michigan Ave, Chicago IL 60603 USA
    260 Nguyen Quoc Thuan Bình Thuận
    261 Đỗ Công Hào Khánh Giám đốc Công ty Xuất nhập khẩu VinaTime tại Cộng hòa Séc CH SEC
    262 Đỗ Du Long Kinh doanh CH SEC
    263 Trần Viết Dung Úc
    264 KS Đỗ Hoàng Điệp KS xây dựng Hà Nội
    265 Nguyễn Tự Do Chuyên viên vi tính. Pháp
    266 Đỗ Minh Thư Software Developer TP HCM
    267 Nguyễn Trung Dân Cán bộ, đảng viên
    268 Nguyễn Thị Khánh Trâm Nghiên cứu viên văn hóa- Phân viện VHNT VN tại TP HCM TP HCM
    269 Phạm Hữu Lê Quốc Phục Phần mềm máy tính Đà Nẵng
    270 KS Nguyễn Đức Giác Kỹ sư cầu đường TP HCM
    271 ThS Trân Ngọc Ánh Thạc sĩ giáo dục học, Chuyên viên Giáo dục Đa Văn hóa, Đa Ngôn ngữ, Thành phố Boston, Hoa Kỳ USA
    272 GS TS Trần Đình Sử NGND, Trường đại học Sư phạm Hà Nội Hà Nội
    273 Đặng Quang Vinh Sinh viên Trường đại học GTVT TP HCM TP HCM
    274 Nguyễn Kiều Dung Nghiên cứu sinh Kinh tế, Đại học Bang New York USA
    275 Lâm Thị Ngọc Giáo viên Thanh Hóa
    276 Dương Văn Nam Viễn thông Nam Định
    277 KTS Nguyễn Hữu Mười Giám đốc Cty XD-KT Phú Gia Hưng TP HCM
    278 Hồ Quang Hưng Cử nhân kinh tế, chuyên viên XNK TP.HCM
    279 Trần Quốc Thành Tiểu thương TP.HCM
    280 Trịnh Minh Đức Nông dân Lâm Đồng
    281 Phan long Côn Nguyên Chủ tịch Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị tỉnh Phú yên. Phú Yên
    282 KS Nguyễn Trường Thọ Kỹ sư điện, điện tử Hà Nội
    283 Nguyễn Trọng Việt Nhân viên văn phòng Hà Nội
    284 KS Nguyễn Bá Ngọc Kỹ sư đường sắt, đã về hưu. Hà Nội
    285 KS Trần Liên Kỹ sư đường sắt, đã về hưu. Hà Nội
    286 Nguyễn Thị Yến Cán bộ về hưu Hà Nội
    287 Trần Bích Thủy Giáo viên PTTH Trường Hoàng Văn Thụ Hà Nội
    288 Nguyễn Xuân Long Cty thiết bị điện Á Châu Hà Nội
    289 Nguyễn Thị Thảo Cán bộ Bộ Nội thương, đã nghỉ hưu Hà Nội
    290 Nguyễn Thị Văn Viện Xã hội học Hà Nội
    291 Phan Thu Trang Nghiên cứu sinh ngành Tài chinh, ĐH Hawaii, Manoa USA
    292 TS Lê Gia Vinh Nguyên Giảng Viên ĐHSP Huế Canada
    293 KS Lê Anh Nam Kỹ sư xây dựng, hiện công tác tại TPHCM TP HCM
    294 TSKH Phạm văn Đỉnh Tiến sĩ quốc gia, Pháp, chuyên ngành Vật lý Vi bụi
    295 Nguyen Thuyet USA
    296 Do hoang Linh USA
    297 Le Dong Tam Sinh vien cao hoc USA
    298 Nguyễn Tường Anh Lập trình viên TP HCM
    299 Hồ Phạm Thục Lan Phó chủ nhiệm Bộ môn Nội . Trường đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch TP Hồ Chí Minh TP.HCM
    300 KS Hồ Đắc Nhơn Kỹ sư xây dựng
    301 KS Đào Quang Long Kỹ sư xây dựng Hà Nội
    302 KS Nguyễn Đăng Bảy Kỹ sư xây dựng Đà Lạt
    303 Nguyễn Văn Dũng Kinh doanh nhỏ. Phú Thọ
    304 Võ Thanh Xuân Dịch vụ photo – vi tính Đồng Tháp
    305 Phan Thái Huấn Nhân viên IT, Công ty TNHH VSL Việt Nam Trà Vinh
    306 Truong The Minh USA
    307 Khanh Do Cử nhân kinh tế, Nhân viên văn phòng USA
    308 Trương Đức Tuấn IT Consultant, Learning Environments & Classroom Services (LECS), California State University, East Bay USA
    309 TS Nguyễn Ngọc Hùng Ngành kinh tế, quản trị rủi ro Germany
    310 Hồ Vĩnh Trực Kỹ thuật viên vi tính TP HCM
    311 Phạm Thị Tâm Quản lý phòng Net TP.HCM
    312 Trần Hữu Hoan Sinh viên TP HCM
    313 Huỳnh Nguyễn Bảo Uyên Dược sĩ USA
    314 Tạ Dzu Nhà báo tự do
    315 KS Lê mạnh Đức Đã hưu trí TP HCM
    316 Nguyễn Kế Hoàng Minh Nhân viên tư vấn tài chính TP HCM
    317 ThS Trần Phục Hưng Ngành QTKD, chuyên viên tư vấn chiến lược, Công ty Square 44 Thailand Thái Lan
    318 Đoàn Nam Sinh Giáo viên thỉnh giảng bộ môn Công nghệ Sinh học – Đại học Nông lâm TP HCM Đà Lạt
    319 Nguyen Van Vu Giáo chức (dạy Triết) Canada
    320 Đoàn Đình Sáng Hội viên Hội Cựu chiến binh, cư trú phường Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội Hà Nội
    321 ThS KS Phạm Quốc Bình Kỹ sư điện toán, Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Chủ Công ty VMDD TECH USA
    322 BS Phan Thế Vấn Bác sĩ y khoa TP HCM
    323 Nguyễn Hoàng Long Chuyên viên hàng hải TP HCM
    324 Vũ Duy Chu Nhà thơ TP HCM
    325 BS Vương Thiện Đức Bác sĩ thú y Đồng Nai
    326 Nguyễn Xuân Tùng Ship Agent Hải Phòng
    327 Phạm Minh Sơn Hà Nội
    328 Trần Đắc Lộc Cựu Giảng viên chính Đại học khoa học Huế, cựu chiến binh cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc CH SEC
    329 Trương thị Quí Bút danh Nguyệt lâm
    330 Nguyễn Thị Lan Tiểu thương Hà Nội
    331 Phạm Toàn Phó giám đốc thường trực Công ty xây dựng tre Việt Hà Nội
    332 Lê Đình Thắng Cán bộ phòng kinh doanh Công ty Vida Mo Hà Nội
    333 Trần Quốc Huy Đại úy quân đội xuất ngũ Hà Nội
    334 Vũ Thạch Sơn Hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam Hà Nội
    335 Ngyễn Mạnh Hà Cán bộ Ngân hàng phát triển nông nghiệp nông thôn Hà Nội Hà Nội
    336 Phan Văn Hùng Nguyên giáo viên Trường phổ thông trung học Quang Trung, Hà Đông Hà Nội
    337 Nguyễn Văn Tống Nghề nghiệp tự do Hà Nội
    338 Phan Anh Nguyên giáo viên Trường phổ thông trung học Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội Hà Nội
    339 Thiếu tá Đào Mộng Lân Hội viên Hội Cựu chiến binh Viêt Nam Hà Nội
    340 Trần Văn Thiển CB Tổng công ty VINACONEX – 1 Hà Nội
    341 Nguyễn Anh Dũng Hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam Hà Nội
    342 Phạm Văn Thạnh Lái xe Hà Nội
    343 Nguyễn Văn Tuyến Nghề nghiệp tự do Hà Nội
    344 Vũ Mạnh Hùng Nguyên giảng viên Khoa Quản trị kinh doanh Thương mai, hiện là cán bộ quản lý ký túc xá Trường cao đẳng Kinh tế kỹ thuật Thương mại Hà Nội
    345 Nguyen Thu Hang Nội trợ Đan Mạch
    346 Lê Văn Thịnh Giáo viên Anh văn TP.HCM
    347 Nguyễn Hải Thanh Kinh doanh dầu mỡ Hải Phòng
    348 Nguyễn Xuân Tiến Canada
    349 Tô Oanh Thầy giáo THPT, đã nghỉ hưu Bắc Giang
    350 KS Nguyễn Ngọc Biên Kỹ sư cơ điện, Công ty TNHH AC, Hà Nội Hà Nội
    351 Bùi Xuân Quang Chủ nhiệm bản thông tin Viêt-Nam Infos Pháp
    352 BS Nguyễn Trọng Việt Bác sĩ y khoa USA
    353 ThS Mai Anh Tài Phó tổng giám đốc TP HCM
    354 Nguyễn Hữu Minh Dược sĩ TP HCM
    355 GS Phạm Hoàng Phiệt GSBS y khoa, đã nghỉ hưu TP HCM
    356 Vũ Ngọc Liễn Nhà nghiên cứu sân khấu Hát bội Bình Định
    357 Hoàng Minh Tường Nhà văn
    358 Bùi Văn Nam Sơn Nhà nghiên cứu triết học, Ủy viên Hội đồng khoa học Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh TP HCM
    359 PGS Nghiêm Hữu Hạnh Chủ tịch Hội Cơ học đá Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Địa kỹ thuật (Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam), nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chi Nông nghiệp và PTNT (Bộ Nông nghiệp và PTNT) Hà Nội
    360 Phạm Thành Hà Nội
    361 Dương Văn Vinh Cựu sỹ quan QĐND Việt Nam TP HCM
    362 Bùi Văn Hơn Bỉ
    363 Chu Sơn Nhà văn TP HCM
    364 Nguyễn Thị Diễm Kiều Nội trợ Pháp
    365 Benjamin Pelletier Nông dân Pháp
    366 GS Tran Manh Khang USA
    367 Hoang Hai Du học sinh USA
    368 Vu quang Tuan Du học sinh USA
    369 Pham van Phu Du học sinh USA
    370 Bui trong Van Du học sinh USA
    371 Tran van Bay Du học sinh USA
    372 Nguyễn Quốc Thái Nhà báo TP.HCM
    373 Nguyễn Thanh Liêm Giảng viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc Trường ĐHNN – ĐHQG Hà Nội,. Nghiên cứu sinh lớp Tiến sĩ khoa Văn học Trung Quốc, Trường đại học quốc lập Trung Sơn Đài Loan. Hà Nội
    374 KS Bùi Văn Phước Kỹ sư điện tử TP HCM
    375 Đào Bá Duy Quảng Ninh
    376 Hồ Thị Sinh Nhật Giáo viên tiểu học Hà Nội
    377 Nguyễn Văn Viễn Kinh doanh tự do Hà Nội
    378 Hồ Viết Thịnh Nhà giáo về hưu Hà Nội
    379 Trịnh Quang Chung Du học sinh Canada
    380 Phan Thành Khương Nhà giáo Ninh Thuận
    381 KS Đỗ Hồng Thái Kỹ sư Điện tử TP HCM
    382 ThS Trinh Hung Cong ty kế toán Trinh & Co, CPA USA
    383 KS Hùynh Trọng Lương Kỹ sư công nghệ thông tin Bình Định
    384 Nguyễn Xuân Hoài Phiên dịch, đã nghỉ hưu Hà Nội
    385 KS Mai Thanh Bình Kỹ sư xây dựng, Ban Quản lý dự án Đại học Đà Nẵng Đà Nẵng
    386 KS Đỗ Gia Tuyền Kỹ sư viễn thông, Công ty Dầu khí Saudi Aramco, Saudi Arabia Saudi Arabia
    387 Trần Kim Thập Maths Department, Balcatta Senior High School, Western Australia
    388 Nguyễn Hữu Chuyên Thái Bình
    389 Lê Vĩnh Triển GV Đại học, TPHCM TP HCM
    390 Nguyễn Lãm Thắng Letter and Literature Department
    Hue University’s College of Education Huế
    391 Trần Tuấn Dũng Canada
    392 Tư Đồ Tuệ Tư doanh Canada
    393 Nguyễn Thi Phan Tuyen Viết văn, dịch sách, làm việc ngành xét nghiệm y khoa Pháp
    394 Lê Vĩnh Trương Hành nghề tự do TP HCM
    395 Nguyễn Hùng Kinh doanh nhỏ, Cử nhân công nghệ thông tin khoa học tự nhiên TP HCM Đồng Nai
    396 Nguyễn Quang Trung Germany
    397 Đỗ Quý Toàn Dạy học, viết báo USA
    398 Phạm Văn Phúc Chuyên viên huấn luyện bán hàng Đồng Nai
    399 Hoàng Kim Ngân Sinh viên USA
    400 TS Trần Văn Quyến GĐ Nhà máy SungNam Knitting Mills (SKL) Nam Định
    401 KS Nguyễn Tuấn Khoa TP HCM
    402 Đỗ Mạnh Tiến Giám đốc Công ty xây dựng tư nhân
    403 TS Lê Khánh Hùng Công nghệ Thông tin Hà Nội
    404 Nguyễn Chí Tuyến THE GIOI Publishers Hà Nội
    405 Nguyễn Đăng Tuấn Làm vườn, thiết kế sân vườn Canada
    406 Nguyễn Thị Từ Huy Khoa Văn học và Ngôn Ngữ
    Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP HCM TP HCM
    407 KS Phạm Duy Hiển Đã nghỉ hưu Vũng Tàu
    408 Nguyễn Thị Hồng Thúy Kiểm toán viên TP HCM
    409 PhD Phạm Ngọc Cương PhD in Psychology Canada
    410 Đà Linh Viết văn, nguyên Tổng biên tập NXB, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Đà Nẵng. Hiện sinh hoạt Hội Nhà văn Hà Nội Hà Nội
    411 Ngo Khoa Ba Bảo hiểm Thương mại USA
    412 Bùi Hữu Tường Radiologist Germany Germany
    413 GS VS Hoàng Xuân Phú Tiến sĩ khoa học, Viện sĩ Hà Nội
    414 KS Phạm văn Chính Kỹ sư CNTT làm việc tại VNPT Viễn thông Hà Nội thuộc Tập Đoàn VNPT Việt Nam. Hà Nội
    415 Phan Quốc Tuyên Dự án trưởng, Liên minh Viễn thông quốc Tế, Geneva, Switzerland Thụy Sỹ
    416 Nguyễn Văn Sơn Quảng Trị
    417 Đỗ Khiêm Nhà văn USA
    418 TS Vũ Thế Cường Ngành Cơ Khí hãng BMW Germany
    419 Trần Thu Thủy Nội trợ Germany
    420 KS Trần văn Cung Kỹ sư luyện kim Germany
    421 TS Trần Anh Ngành kinh tế USA
    422 KS Trương Lợi Kỹ sư cơ khí TP HCM
    423 Nguyễn Ngọc Hòa Nghiên cứu viên QHQT, dịch sách Hà Nội
    424 KS Đặng Cao Cường Kỹ sư xây dựng Hà Nội
    425 KS Lương Nguyễn Lê Kỹ sư điện tử viễn thông, đang làm việc tại Công ty Qualcomm, Inc., San Diego, USA USA
    426 Vũ Thư Hiên Nhà văn Pháp
    427 Lê Triệu Phong Nghiên cứu viên, Viện Công nghệ thông tin và truyền thông Nhật Bản (NICT, Japan) Nhật Bản
    428 PGS TS Hà Thúc Huy Giảng dạy Đại học Khoa Hóa – Đại học Khoa học, Đại học Quốc gia TP HCM TP HCM
    429 Lê Thanh Trường Phóng viên Đài PT-TH Đà Nẵng Đà Nẵng
    430 Nguyễn Quốc Khánh Kinh doanh TP HCM
    431 KS Đỗ Toàn Quyền Kỹ sư-TP, Quản lý Dự án TP.HCM
    432 Lê Xuân Hoàng Giám đốc Điều hành TP HCM
    433 Lê Xuân Bình Tổng Giám đốc TP HCM
    434 Ngô Hải MPI for Physics, Munich, Germany Germany
    435 Nguyễn Tiến Bính Cán bộ hưu trí Hà Nội
    436 Xà Quê Châu Đầu bếp TP HCM
    437 Nguyễn Quý Kiên KTV Tin học Hà Nội
    438 Trần Hoài Việt Comp Tech USA
    439 KS Lê Trung Tĩnh Pháp
    440 Quan Tran doanh nhan USA
    441 Jean-Charles Sarrazin Auteur de livres pour la jeunesse
    184 rue de Crimée
    75019 Paris Pháp
    442
    Lê Huỳnh Hữu Hạnh
    Sinh viên TPHCM
    443 BS Võ Trọng Lộc Bác sĩ y khoa Nghệ An
    444 KS Vũ Văn Khoa 821 International Blvd, Oakland, California USA
    445 Nguyễn Việt Lâm Hà Tĩnh
    446 TSKH Nguyễn Xuân Xanh TP HCM
    447 BS Nguyễn thị Kim Thoa Bác sĩ nhi khoa TP HCM
    448 Đỗ Lệnh Đạt Giáo viên Trường THPT Amsterdam Hà Nội
    449 Lê Thị Hồng Hạnh Cán bộ hưu trí Hà Nội
    450 Y-tuan Họa sĩ, Giám đốc sáng tạo TP HCM
    451 Ngô Thái Văn Công nhân viên TP HCM
    452 Trịnh Tuệ Nghiên cứu sinh ngôn ngữ học Đại học MIT, Massachusetts USA
    453 Nicolas FOURRIER Conseiller référendaire à la Cour des Comptes Pháp
    454 Marie-Anne FOURRIER Directrice d’hôpital Pháp
    455 Vũ Hồng Ánh Ngệ sĩ violoncelle TP HCM
    456 Lưu Thùy Diệp Canada

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 28 other followers